
Truyện Kiều dân gian hoá trong
tộc người Kinh ởTrung Quốc – Tiếp
cận từgóc nhìn nhân loại học văn hoá
Người Kinh tức người Việt, hiện là một trong số55 dân tộc thiểu số
của Trung Quốc. Người Kinh di cưsang đất Trung Quốc vào năm Lê Hồng
Thuận thứ3đời Lê Tương Dực, - tương đương niên hiệu Minh VũTông,
Chính Đức thứ6, tức năm 1511. Theo thống kê dân sốnăm 2000, thì tộc
người Kinh ởTrung Quốc hiện có 22.500 người, riêng ởQuảng Tây có
21.000 người, tập trung hầu hếtởba làng đảo Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu,
thường gọi chung là Tam Đảo (hoặc Kinh Đảo), nay thuộc trấn Giang Bình,
thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ba làng đảo này nằm
trong vịnh Bắc Bộ, thuộc biển Nam Trung Quốc, hiệnđã trởthành vùng bán
đảo, do từnăm 1971-1975, nhân dân đã đắpđê chắn biển tạo thành con
đường nối liền vùng đảo với vùng nộiđịa. Khi di cưsang Trung Quốc,
người Kinh đã mang theo cảmột sốphong tục tập quán của người Việt, và
trong gần 500 năm cưtrú bên ngoài biên giới tổquốc, người Kinh vẫn còn
bảo lưuđược một sốhình thức văn hoá cổhay nói theo thuật ngữcủa

Unesco, đó là di sản văn hoá phi vật thểnhư: truyện kểdân gian, ca dao
tục ngữ, các tục lệcổtruyền, hát đám cưới, ngôn ngữsong âm tiết (la thi/
quảthị, la na/quảna, la dưa/ quảdừa…), đặc biệt là hình thức diễn xướng
truyện Nôm ởkháp đình (đình hát) v.v… Đây là hiện tượng văn hoá - lịch
sửquý hiếm mà các nhà nhân loại học văn hoá gọi là hoá thạch ngoại biên
(fossilisation périphérique/ peripheral fossiligation), hoặc còn gọi là hoạt hoá
thạch nhưcách gọi của giới nhân loại học Trung Quốc. Có thểnói, vùng
Kinh Đảo chính là một cầu trường lý tưởng để nghiên cứu hiện tượng hoá
thạch ngoại biên trong văn hóa tộc người.
Trong sốnhững truyện thơNôm, thường được gọi là truyện Nôm, thì
tất cảcác truyện Nôm bình dân nhưTống Trân và Trần Cúc Hoa (tức
truyện Tống Trân Cúc Hoa ởViệt Nam), nhưDương Lễvà Lưu Bình (tức
truyệnLưu Bình Dương LễởViệt Nam) khi lưu truyền trong tộc người Kinh
đều có truyện kểvăn xuôi, truyện cổtÍch tương ứng, mà truyện nào cũng có
dịbản. Và, nếu so sánh với những truyện cùng kiểu loạiởViệt Nam thì sự
sai biệt là khá lớn.
Trong bối cảnh chung nhưvậy, truyện kểdân gian văn xuôi cũng như
truyện thơKim Trọng và A Kiềuđã xuất hiện và lưu truyền trong tộc người
Kinh cùng với các truyện thơNôm bình dân khác. Đáng chú ý là dòng
truyện kểdân gian văn xuôi đã hình thành cảmột nhóm dịbản. Một trong
sốnhững dịbảnđó kểrằng:
“Tài chủhọNguyễn sinh hạ được hai người con gái là A Kiều và A
Vân. Tên đẹp của hai nàng đồnđại khắp xa gần. Thường ngày A Kiều, A
Vân không cho các nàng ra khỏi cửa.
Nămđó gặp tiết thanh minh, hai chịem cốnài xin cha mẹcho ra
ngoài đi trảy hộiđạp thanh.

Hai chịem nàng chơi bời thoảthÍch ởmột vùng núi hoang dã, vắng
vẻ. Khi hai chịem đi tới một ngôi mộnằm trơtrọi bên sườnđồi, A Kiều xem
kỹtấm bia đá, thì ra đó là mảnàng ca kỹnổi tiếng Đạm Tiên. Nghĩtới câu
chuyện mẹkểvềnàng Đạm Tiên lúc trẻ, biết bao kẻtheo đuổi nàng năm
xưa không còn thấy tăm hơiđâu cả, bất giác A Kiều ngậm ngùi rơi lệ, thắp
hương lạy trước mả Đạm Tiên mấy lạy. A Vân thấy thếbèn giục chị đi chỗ
khác chơi, song A Kiều thoái thác là mỏi mệt muốn vềnhà. Lúc bấy giờ
chợt có chàng Bùi Kim Trọng là công tửcon vịtài chủ ở làng bên dắt ngựa
đi tới, định đỡ A Kiều lên ngựa. Nhưng A Kiều từchối khiến Kim Trọng tỏý
rất áy náy.
Từ đó, A Kiều vềnhà luôn nhớnhung Kim Trọng mà sinh bệnh. Biết
tin, Kim Trọng bèn mạo nhận là thầy thuốcđến nhà tài chủhọNguyễn thăm
bệnh cho nàng A Kiều. A Kiều vừa nhác thấy Kim Trọng thì bệnh đã đỡ vài
phần. Cha A Kiều liền mời Kim Trọng ởlại chữa trịtiếp cho A Kiều cho đến
khi khỏi bệnh.
Sau đó ít lâu A Kiều khỏi bệnh. Kim Trọng trởlại nhà mình. Cha
chàng Kim bắt chàng nhốt vào phòng đọc sách, bắt chàng phải chăm chỉ
gắng công học hành.
Đến ngày mồng 10 tháng 6 nông lịch là ngày hội hát đốiđápởkháp
đình (đình làng) của tộc người Kinh, Kim Trọng mượn cớ đi lễtổ để tớiđình
làng dựhội. Song tạiđình làng chàng Kim không tìm thấy A Kiều. Chàng
thẫn thờnhưkẻmất hồn, đi thất thểu ra ngoài làng, ngồi bệt dưới gốc cây
đa cổthụ, bỗng chàng ngồi phải một cái thoa gài tóc bằng vàng, chàng cầm
lên xem thì nhận ra đó là cái thoa của A Kiều.
Lúc ấy A Kiều cũng đang cúi đầu bước tớiđể tìm cái thoa. Thếlà hai
người có dịp gặp gỡ, cùng thềthốt kết làm vợchồng. Kim Trọng vềnhà, xin
cha đi cầu hôn. Cha chàng trách mắng chàng sớm nghĩtới việc yêu

đương, lệnh cho chàng nếu không thi đỗ Trạng Nguyên thì suốtđời không
cho lấy vợ.
Kim Trọng vội vã lên đường đi thi, nhờngười mang thưcho A Kiều,
hẹn rằng sau khi thi đỗ sẽvềcưới nàng làm vợ.
Bấy giờcó một lái buôn ởtrọnhà A Kiều, hắn thấy A Kiều xinh đẹp
bèn xin cha nàng cho được kết hôn với nàng. Nhưng bịcựtuyệt. Hắn liền
hối lộquan huyện, rồi tốcáo rằng cha A Kiềuđã ăn cắp tơlụa của hắn. Tên
quan huyện bèn sai lính tới khám xét và lấy hết của cải của nhà tài chủhọ
Nguyễn, lạiđánh đập cha A Kiều rất dã man. A Kiềuđành phải nhận lời lấy
tên lái buôn để cứu cha. Rồi nàng tháo đôi khuyên tai mà Kim Trọng đã
đính ướcđưa cho A Vân, và dặn em phải thay chịchăm lo cho chàng Kim.
Người lái buôn đưa A Kiềuđi theo, nàng tuyệt thựcđể tựtử. Người lái
buôn thấy vậy bèn bán A Kiều cho một quan viên ởKinh thành để làm nàng
hầu.
Cha con tên quan viên nọtranh nhau nhận A Kiều làm tỳnữriêng.
Còn các người vợcủa hai cha con quan viên thì mượn cớ ấyđánh đập A
Kiều tơi tả. Nàng uấtức tìm con đường chết nhưng được mẹlão quan viên
cứu thoát. Ông bốquan viên biết chuyện, trách mắng con trai, con dâu. Thế
là bọn vợcủa hai cha con quan viên cùng thông đồng lập mưuđem bán A
Kiều cho lầu xanh. Mụchủlầu xanh dạy A Kiều các cách đưađón khách
cùng kỹthuậtđàn hát, và ép nàng phải tiếp khách. Dần dần A Kiều trở
thành kỹnữnổi tiếng.
Khi ấy thượng tướng quân TừHải dẹp loạn xong bỏnghiệp võ theo
nghềbuôn, nghe tiếng danh kỹA Kiều bèn tìm đến hỏi rõ thân thếrồi tỏ
lòng thương cảm, bỏtiền ra chuộc nàng đem đi và hứa sẽgiúp nàng báo

thù. Sau khi TừHải thôi nắm giữbinh quyền thì bọn giặcẩn nấpở đâuđó
lại nổi dậy và áp sát kinh thành. TừHải nghe tin quá uất hận mà chết. Niềm
hi vọng của A Kiều thếlà tan vỡ, nàng phải trốnđến một ngôi chùa mong
được xuất gia tu hành, nhưng nàng bịtừchối, rồi cuối cùng lại bịmụchủ
lầu xanh bắt về.
Lại nói Kim Trọng khi ấy thi đỗ Trạng Nguyên, nhà vua muốn kén làm
phò mã. Kim Trọng tâu bày rõ nguyên do, nhà vua bèn ban cho chàng chức
quan tam phẩm và cho chàng vềquê để kết hôn. Nhưng khi Kim Trọng về
đến nhà thì chỉthấy nhà họNguyễnđã hoang phế, cỏdại mọcđầy sân. Kim
Trọng tìm được ba người nhà họNguyễn, xét xửlại vụán oan khuất, trừng
trịgã lái buôn. Chàng sai ngườiđi tìm nàng A Kiều nhưng không thấy, nên
đành kết hôn với A Vân.
Sau 15 năm chia tay với A Kiều, một hôm Kim Trọng đến một ngôi
chùa cổbên sông TiềnĐường, chợt thấy một thiếu phụngồiởdướiđất,
đang chắp tay nhắm mắt giống nhưpho tượng Quan Âm. Chàng dụi mắt
nhìn kỹ, thì ra đó là A Kiều. Nguyên do là nàng bịmụchủlầu xanh bán cho
một kỹviện khác, nàng liền bỏtrốn rồi nhảy xuống sông tựtử, sau được
một ngườiđánh cá cứu sống và đưa nàng đến tu ởngôi chùa này. Sau khi
gặp lại A Kiều, chàng Kim bèn đưa nàng vềnhà cùng sum họp...”.
Truyện thơKim Trọng và A Kiềuvềcơbản cũng cùng nội dung với
truyện kểvăn xuôi, nhưng do đặc trưng thểloại là thơca diễn xướng dân
gian của tộc người Kinh, nên hình thức ngôn từthường mang đậm tính chất
trữtình và giàu sắc thái biểu cảm hơn. Theo GS. Qua Vĩcho biết, thì vào
những năm 40 của thếkỷtrước, vào dịp lễhộiở đình làng hàng năm,
truyện thơdân gian này còn được các kháp ca (liền anh), kháp muội (liền
chị) diễn xướng. Song đáng tiếc là vào thờiđiểm GS. Qua Vĩ đi sưu tầm
(1984) thì đã không còn ai biết diễn xướng truyện thơnày nữa. Sau đây
chúng ta hãy xem xét mộtđoạn kểlại cảnh tượng chàng Kim Trọng đi tìm

