85
HNUE JOURNAL OF SCIENCE
Educational Sciences 2024, Volume 69, Issue 5, pp. 85-96
This paper is available online at https://hnuejs.edu.vn/es
DOI: 10.18173/2354-1075.2024-0120
COPING WITH CYBERBULLYING
AMONG HIGH SCHOOL STUDENTS: A
CROSS-SECTIONAL STUDY IN
QUANG NGAI CITY, QUANG NGAI
PROVINCE
ỨNG PHÓ VỚI BẮT NẠT TRỰC
TUYẾN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG: MỘT NGHIÊN CỨU
CẮT NGANG TẠI THÀNH PHỐ
QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Nguyen Thi Ngoc Be*1 and Lam Van Minh2
1Faculty of Psychology and Education,
University of Education, Hue University,
Thua Thien Hue province, Vietnam
2Human Organ Transplantation
Coordination Unit, Cho Ray Hospital, Ho
Chi Minh city, Vietnam
*Corresponding author Nguyen Thi Ngoc Be,
e-mail: ntngocbe@hueuni.edu.vn
Nguyn Th Ngc*1 Lâm n Minh2
1Khoa Tâm và Giáo dục, Trường Đại hc
Sư phạm, Đại hc Huế, tnh Tha Thiên
Huế, Vit Nam
2Đơn vị Điu phi ghép các b phận cơ th
người, Bnh vin Ch Ry, thành ph H
Chí Minh, Vit Nam
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Ngọc Bé,
e-mail: ntngocbe@hueuni.edu.vn
Received February 2, 2024.
Revised February 27, 2024.
Accepted March 8, 2024.
Ngày nhận bài: 2/2/2024.
Ngày sửa bài: 27/2/2024.
Ngày nhận đăng: 8/3/2024.
Abstract. The study is to explore how high school
students cope with cyberbullying. 834 students from
three high schools in Quang Ngai City participated
in the study. Results showed that 35% of the
respondents reported that they had participated in
cyberbullying in various roles. There was no
significant difference between males and females in
terms of involvement in or being victims of online
bullying. No correlation was found between age and
involvement in online bullying or victimization.
Students employed various coping strategies when
experiencing online bullying, with gender
differences noted in the coping strategies of
Seeking Social Support and Internalization. A
positive correlation was observed between age and
externalizing coping strategies. Additionally, there
was a positive correlation between being bullied
online and coping strategies such as Seeking Social
Support, Problem Solving, Detachment,
Internalization, and Externalization. The research
results have contributed valuable data on the study of
cyberbullying and the coping of high school students.
Tóm tắt. Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu
mối quan hệ giữa bắt nạt trực tuyến c ứng p
của học sinh trung học phổ thông. 834 học sinh của
ba trường trung học phổ thông tại Thành phố
Quảng Ngãi đã tham gia vào nghiên cứu. Kết quả
cho thấy 35% tổng số khách thể báo cáo các em đã
tham gia vào bắt nạt trực tuyến với các vai trò khác
nhau. Không có sự khác biệt giữa nam và nữ ở HS
đi bắt nạt/bị BNTT, không mối tương quan giữa
độ tuổi với HS đi bắt nạt/bị BNTT. Học sinh sử
dụng các cách ứng pkhác nhau khi bị BNTT; có
sự khác biệt giữa nam và nữ ở cách ứng phó Tìm
kiếm hỗ trợ hội” và “Nội tâm hóa”. mối
tương quan thuận giữa độ tuổi cách ứng p
ngoại a. mối tương quan thuận giữa bBNTT
và các cách ứng phó Tìm kiếm hỗ trợ xã hội, Giải
quyết vấn đề, Tách mình khỏi suy nghĩ, Nội tâm
hóa, Ngoại hóa. Kết qunghiên cứu đã góp phần
bổ sung thêm dữ liệu thực tế về nghiên cứu bắt nạt
trực tuyến và cách ứng phó của học sinh trung học
phổ thông.
Keywords: Cyberbullying, Coping, High school
student.
Tkhóa: Bắt nạt trực tuyến, ứng phó, học sinh
trung học phổ thông.
NTN Bé* & LV Minh
86
1. Mở đầu
Bt nt trc tuyến (BNTT) được xem như một yếu t nguy cơ, là rủi ro đối vi thanh thiếu
niên khi s dụng internet phương tiện công ngh [5]. Nghiêm trọng hơn, BNTT đang là hiện
ợng đáng báo đng trên toàn thế gii [6]. Trong những năm gần đây, t l HS b BNTT có xu
hướng ngày càng tăng lên [2], [7]. BNTT xy ra ph biến nhiều c trên thế giới như Mỹ,
Canada, Anh, v.v... vi t l HS là nn nhân mc ph biến trong khong t 20% đến 25% tng
s khách th nghiên cu [1], [3], [6], [8]. Ti M, kết qu điều tra t năm 2007 đến 2015 cho
thy, t l trung bình 26,3% tng s khách th nghiên cu nn nhân ca BNTT. Theo s liu
thng gần đây nhất, 34% trong tng s 457 HS nn nhân ca BNTT [7]. BNTT mt
hình thc mới để li hu qu nghiêm trọng hơn so với nhng hình thc bt nt, bo lc hc
đường khác [9]. Trên thế giới cũng như tại Vit Nam, nhiều trường hp HS b BNTT đã xảy ra
và để li hu qu là nhng v t sát thương tâm được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại
chúng. Có th thấy, đây là hình thức bt nt vô cùng nguy him bi hu qu nó để li không ch
là nhng vết thương trên thân thể như bắt nt thông thường, nó tác động đến mi quan h xã hi,
hc tp, gây ra s tổn thương tâm lí, tinh thần, nghiêm trọng hơn là có thể ảnh hưởng đến c tính
mng của HS [1]. Đáng chú ý là BNTT đã và đang xảy ra nhiu nht thanh thiếu niên, la tui
tiếp xúc nhiu vi mng internet và các thiết b điện t nhưng các em chưa có đủ kinh nghim và
suy nghĩ chín chắn để ng phó khi gp phi nhng tình huống khó khăn như bị bt nt [10], [11].
Tuy nhiên, một điều rõ ràng là những tác động tiêu cc ca BNTT có th được gim nh đến mt
mức độ nào đó bằng cách áp dng các chiến lược ng phó [12].
Trong các vấn đề liên quan được nghiên cứu, ứng phó với bắt nạt một vấn đề được quan
tâm bởi đây có thể là yếu tố dự đoán phần nào hệ quả của việc bị bắt nạt. Ứng phó là tương tác,
đối mặt, giải quyết vấn đề của cá nhân hay giữa các cá nhân trong những tình huống bất thường,
khó khăn. Khái niệm này còn được dùng để mô tả sự phản ứng của cá nhân trong các tình huống
khác nhau [13], [14]. Theo tác giả Trần Văn Công cộng sự, ứng phó với BNTT sự tương
tác, đối mặt, giải quyết vấn đề của nạn nhân khi bị một người hoặc một nhóm người (thủ phạm)
thực hiện hành vi bắt nạt thông qua các tiện ích và ứng dụng trên internet hướng tới việc làm tổn
thương tinh thần, tâm của họ một cách chủ ý, lặp đi lặp lại thái độ đe dọa, tđịch
[4]. Trên thế giới, một số kết quả nghiên cứu đã cho thấy có sự khác biệt về ứng phó với bắt nạt
ở HS nam và nữ, những HS bị bắt nạt nhiều có xu hướng ứng phó bằng chiến lược né tránh [15],
khoảng một phần ba HS không tìm kiếm sự giúp đỡ nào khi bị bắt nạt [16] HS thường có
xu hướng ứng phó tập trung vào vấn đề [17]. Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về ứng phó,
xử của HS khi gặp những tình huống khó khăn [14], [18], [19]. Tác giả Nguyễn Thị Hương khi
nghiên cứu về bắt nạt ở HS đã bước đầu khảo sát và thấy rằng những HS bị bắt nạt có nhiều cách
ứng phó khác nhau với ba xu hướng chính gồm: lảng tránh, tìm sự trợ giúp và trả thù. Trong đó,
khi bị bắt nạt HS có xu hướng tìm sự trợ giúp nhiều hơn [20]. Theo Nguyễn Thùy Linh cộng
sự, khi bị bắt nạt qua mạng, HS chưa biết cách ứng phó đúng với hiện tượng này. Cách ứng phó
phổ biến nhất là tìm lời khuyên từ bạn bè (60,8%) [21].
Trong phạm vi tìm kiếm của chúng tôi, tại Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu chuyên
sâu về cách ứng phó của HS khi bị bắt nạt trực tuyến ở HS THPT, đặc biệt là ở địa bàn thành phố
Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, việc phân tích thực trạng các cách ứng phó với BNTT của
HS THPT ý nghĩa khoa học thực tiễn. Kết quả nghiên cứu sẽ sở để các nghiên cứu
tiếp theo thể xây dựng các biện pháp nâng cao chiến lược ứng phó tích cực hiệu quả với
BNTT và đồng thời giảm ứng phó tiêu cực.
2. Ni dung nghiên cu
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Mu nghiên cu
ng phó vi bt nt trc tuyến ca hc sinh trung hc ph thông: mt nghiên cu…
87
Để mu nghiên cu mang tính chất đặc trưng đại din, chúng tôi chn HS của 3 trường
THPT ti Thành ph Qung Ngãi, tnh Quảng Ngãi theo phương pháp chọn mu thun tin. Thi
gian khảo sát là tháng 1 và tháng 2 năm 2023. Theo công thc ca Slovin [22], vi t l sai sót là
5% và tng s HS khong 11193, c mu cn thiết cho nghiên cu ca chúng tôi t 386 tr lên.
Cui cùng, có 834 bng câu hi hp l vi t l98,12%%. Trong mu nghiên cu, độ tui nm
trong khong t 16 đến 18 tuổi (Điểm trung bình = 17,04, Độ lch chun = 1,784); V gii tính,
có 432 HS n (chiếm 51,8%) và 402 HS nam (chiếm 48,2 %). V khi lp: có 241 HS khi lp
10 (chiếm 28,9%), 320 HS khi 11 (chiếm 38,4 %) 273 HS (chiếm 32,7 %) khi lp 12. V
hc lc, 94 HS hc lc xut sc (chiếm 11,3%), 246 HS hc lc gii (chiếm 29,5%), 389
HS có lc khá (chiếm 49,9%), 46 HS có hc lc gii (chiếm 29,5%), 90 HS HS có hc lc trung
bình (chiếm 10,8%) và 15 HS có hc lc yếu (chiếm 1,8%).
2.1.2. Th tc nghiên cu
Nghiên cu của chúng tôi đã được phê duyt bi ban giám hiu của các trường THPT trên
địa bàn thành ph Quảng Ngãi và được s cho phép đạo đức ca Khoa Tâm Giáo dục, Trường
Đại học Sư phạm, Đại hc Huế. Tt c HS được mi tham gia nghiên cứu đều đã đồng ý tham gia
khảo sát. Dưới s hướng dn h tr ca ban giám hiu, giáo viên ch nhim và giáo viên b
môn, cuc khảo sát được thc hin ngay ti lp hc. Tt c học sinh không đồng ý thc hin kho
sát có th ri khi lp học và đến thư viện đ hc tập cá nhân. Trước khi HS tr li bng câu hi,
chúng tôi nhc li thông tin ca nghiên cu, li ích và rủi ro khi tham gia cũng như cam kết gi
bí mt thông tin cá nhân và câu tr li ca h.
2.1.3. Công c nghiên cu
Thang đo BNTT (Revised Cyber Bullying Inventory, RCBI) (Baker & Kavsut, 2007): Cng
i s dụng thang đo RCBI của Baker và Kavsut, 2007 [23] đ xem xét mc độ các hành vi đi BNTT
b BNTT HS, t đó tìm ra t l HS tham gia vào bt nt vi các vai t khác nhau: (1) ch là nn
nhân, (2) ch th phm, (3) va là th phm va nn nhân. Thang đo RCBI bao gm 14 mc (
d: vu khng bằngch đăng ảnh gi lên internet, gi các bình luận đe da, gây tổn thương thông
qua email hoc tin nhn, Ly trm thông tin truy cp email hoặc Facebook đc các email riêng
tư của người khác…) mi mc đưc xếp hạng liên quan đến việc người khởi xướng i bắt nt) và
liên quan đến vic tr thành nn nhân trong 12 tháng qua. Thang đo thiết kế theo dng thang Likert 4
đim (0 = không bao gi, 1 = Mt ln, 2 = Hai hoc ba ln, 3 = Nhiu hơn ba lần). Vic phân loi
HS phi th phm hay nn nhân ca BNTT hay kng da trên báo cáo ca HS mi tiu thang
đo. HS lựa chn ít nht mt câu vi mc đ hai hoc ba ln tr lên tiu thang đo b bt nạt đưc
c đnh là nn nhân. Th phm cũng được xác định theo cách tương tự vi tiu thang đo đi bt nt.
Độ tin cy bên trong của thang đo gốc (phiên bn tiếng Anh) cho tiểu thang đo đi bắt nạt người
khác là 0,82 và của thang đo bị bt nt là 0,75 [24]. Phiên bn tiếng Vit của thang đo BNTT có
độ tin cy tt vi h s Cronbach ca tiểu thang đo đi bắt nạt là 0,90 và thang đo nn nhân là 0,89
[25]. Trong nghiên cứu này, độ tin cy ca thang đo RCBI0,91. Trong đó, tiểu thang đo đi bắt
nạt có đ tin cy 0,85 và tiu thang đo bị bt nt độ tin cy 0,88. Điu này cho thy b công
c s dng trong nghiên cứu có độ tin cậy cao, đảm bo s chính xác cho các kết qu thu được.
Thang đo chiến lược ng phó ca Kochenderfer-Ladd & Skinner (2002): Thang đo chiến
c ng phó ca Kochenderfer-Ladd Skinner (2002): Các chiến lược ng phó với BNTT được
đo lường bng SRCS [26]. Các phiên bn gc ca SRCS s hu 22 mc bao gồm năm thang đo
ph: tìm kiếm s h tr hi (5 mc); gii quyết vấn đề (5 mc); tách mình khỏi suy nghĩ (5
mc); ngoi hóa (3 mc) và ni hóa (4 mục). Thang đo yêu cầu người tham gia ch ra mức độ s
dng các chiến lược ng phó dựa trên thang Likert 5 đim bc t 0 (không bao giờ) đến 4 (rt
thường xuyên). Phiên bn tiếng Vit của thang đo (chỉ bao gm 21 item vi 5 tiểu thang đo)
độ tin cy hiu lc tt [27]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng thang đo SRCS để
nghiên cu các chiến lược ng phó vi BNTT ca HS THPT thành ph Qung Ngãi, tnh Qung
Ngãi sau khi nhận được s đồng ý ca tác gi thích nghi. Giá tr Cronbach’s Alpha của các tiu
NTN Bé* & LV Minh
88
thang đo tìm kiếm h tr hi, gii quyết vấn đề, tách mình khỏi suy nghĩ, nội tâm hóa và ngoi
hóa lần lượt là 0,86; 0,86; 0,78; 0,80 0,66. Điu này cho thy b công c s dng trong nghiên
cứu có độ tin cậy cao, đảm bo s chính xác cho các kết qu thu được.
2.1.4. X thng kê
Trong nghiên cu này, chúng tôi s dng phn mm SPSS 25.0 để phân tích thống kê. Đầu
tiên, chúng tôi thc hin thng kê t (điểm trung bình (ĐTB), độ lch chuẩn (ĐLC), số ng
và t l ca các biến nhân khu và các biến chính (biến đi bắt nt/b bt nt trc tuyến và ng phó
vi bt nt trc tuyến). Th 2: S dng phép kiểm định Independent T-test, để xem xét s khác
bit v mức độ b BNTT và các cách ng phó vi BNTT gia nam và n; Th ba, nghiên cu s
dng phép kiểm định tương quan Pearson đ xem xét s dao động gia mức độ đi BNTT/b BNTT
độ tui, các cách ng phó với BNTT độ tuổi; tương quan giữa b BNTT các cách ng
phó vi BNTT ca HS THPT thành ph Qung Ngãi, tnh Qung Ngãi.
2.2. Kết qu nghiên cu
2.2.1. Thc trng bt nt trc tuyến hc sinh trung hc ph thông thành ph Qung Ngãi,
tnh Qung Ngãi
2.2.2.1. Thc trạng hành vi đi bắt nt/b bt nt trc tuyến học sinh dưới lát ct tng quát
Bng 1. T l HS tham gia vào BNTT
S ng
T l phần trăm (%)
Ch là nn nhân
29
3,5
Ch là th phm
111
13,3
Va là th phm va là nn nhân
152
18,2
Không là nn nhân không là th phm
542
65,0
Tng
843
100
Khách th tham gia nghiên cứu được phân thành bn nhóm da trên báo cáo ca các em trong
thang RCBI: (1) Ch là nn nhân; (2) Ch là th phm; (3) Va là th phm va là nn nhân; và (4)
Không tham gia vào BNTT. Theo cách tính điểm ca bn gốc thang RCBI, đ xác định mt HS
phi nn nhân hay th phm ca BNTT hay không, chúng ta cần căn cứ vào câu tr li ca khách
th. Khách th báo cáo ít nht mt hành vi trong thang đi bắt nt/ b bt nt mức đ hai ln hoc
nhiều hơn thì được xác định th phm/nn nhân. Kết qu cho thy 35% tng s khách th báo
cáo các em đã tham gia vào BNTT với các vai trò khác nhau. C th, 3,5% tng s HS được hi
báo cáoc em ch nn nhân (29 HS), 13,3% (111 HS) ch th phm, 18,5% còn li (152
HS) va là th phm va là nn nhân ca BNTT. T l 35,3% HS có liên quan đến BNTT là mt
con s đáng báo động, cao hơn so với các nghiên cứu trước đây. Kết qu nghiên cu ca Ybarra
Mitchell [28] trên 1501 tr v thành niên hay mt nghiên cu din rng ti Thy Đin trên
22544 HS ca Låftman và cng s [29]. Hai nghiên cứu này đã lần lượt công b ch19%
12% tr tham gia vào BNTT. Ngoài ra, mt s nghiên cu trên thế gii cho thy s xut hin ca
đối tượng vann nhân, va là th phm của BNTT. Trường hp này xảy ra khi HS đã tng b
bt nạt sau đó trở thành th phạm đi bắt nạt người khác ngược li [30]. T l BNTT nn
nhân ca BNTT rất khó xác định chính xác. Mt nghiên cứu được thc hin ti Hoa K vi s
tham gia ca gn 4000 HS t lớp 6 đến lp 8 cho thy rằng trong hai tháng trước đó, 11% HS đã
tng là nn nhân ca BNTT, 4% cho biết h đã hành động như những k BNTT và 7% va là k
BNTT va là nn nhân b BNTT [31]. Trong mt nghiên cu ca Canada đưc công b vào năm
2010 với hơn 2000 HS lớp 6, 7, 10 và 11, 25% cho biết đã trải qua s kin BNTT trong ba tháng
trước đó, 8% cho biết h hành động như mt k BNTT và 25% cho biết va là nn nhân va
k BNTT. Các tác gi cho rng t l này cao hơn trong nghiên cứu ca h h không mô t hot
ng phó vi bt nt trc tuyến ca hc sinh trung hc ph thông: mt nghiên cu…
89
động này là BNTT mà thay vào đó hi v các hành vi c th (gọi tên, đe dọa, lan truyền tin đồn,
v.v.) [32].
2.2.1.2. Thc trng bt nt trc tuyến hc sinh trung hc ph thông dưới các lát ct gii tính
Bng 2. Mức độ đi bắt nt/b BNTT dưới lát ct gii tính
Gii
tính
Mức độ đi BNTT
Mức độ b BNTT
ĐLC
t
p
ĐTB
ĐLC
t
p
Nam
0,33
-0,17
0,87
0,08
0,28
0,58
0,56
N
0,32
0,07
0,22
Kết qu nghiên cu hành vi BNTT HS THPT theo gii tính cho thy không s khác bit
gia c HS nam và HS gia việc đi bắt nt và b BNTT (p > 0,05). Điều này cũng cho thấy rng
độ tuổi này các em đã bắt đầu bước qua tui dy thì ổn định dn v nhân cách, các em
nhn thc ràng v thế gii xung quanh. Không còn s thiếu ổn đnh, khó kiểm soát hành vi như
tui dy thì c nam và n. Nghiên cu này có s tương đồng vi rt nhiu nghiên cu la tui
HS trên thế gii [5], [6], [33]. Bên cnh nhng nghiên cứu có nét tương đồng, thì cũng có không
ít nghiên cu ch ra rng, HS nam có nhiu năng công nghệ hơn HS n [34] HS n có kh
năng trở thành nn nhân của BNTT cao hơn [35].
2.2.2. Thc trng ng phó vi bt nt trc tuyến ca hc sinh trung hc ph thông thành
ph Qung Ngãi, tnh Qung Ngãi
2.2.2.1. Thc trng ng phó vi bt nt trc tuyến ca hc sinh trung hc ph thông dưới lát
ct tng quát
Bng 3. Đim trung bình ca các nhân t ng phó vi BNTT
ng phó vi BNTT
ĐTB
ĐLC
Tìm kiếm h tr xã hi
1,47
1,084
Gii quyết vấn đ
1,70
1,051
Tách mình khi suy nghĩ
1,15
0,978
Ni tâm hóa
1,16
1,035
Ngoi hóa
0,71
0,897
Tng thang đo
1,29
0,803
Chú thích: ĐTB: Điểm trung bình; ĐLC: Độ lch chun
D liu nghiên cu Bng 3 cho thy HS nhiu cách ng phó khác nhau khi b BNTT, trong
đó, nhóm nhân tố Gii quyết vấn đề” mức độ s dng cao nht với ĐTB= 1,70. Đứng v trí
th hai là nhóm Tìm kiếm h tr xã hi với ĐTB= 1,47. Hai nhóm nhân tố Ni tâm hóa
Tách mình khỏi suy nghĩ ĐTB lần lượt 1,16 1,15. Nhóm nhân t Ngoi hóa vi
ĐTB= 0,71 nhóm ứng phó ít được la chọn (ĐTB = 0,71). Điều này th gii: la tui
HS THPT đã s phát triển vượt bt v nhn thc s nh thành thế gii quan, mong mun
được nhìn nhận như một người ln [37]. vy khi HS THPT b BNTT thường có xu hướng
xác định, đánh giá và phân tích các vấn đề đang xảy ra vi bản thân và đưa ra những gii pháp x
mà các em cho là tối ưu nhất. Nghiên cu này ca chúng tôi có s tương đồng vi nghiên cu
ca Trần Văn Công cộng s khi b BNTT, nạn nhân xu hướng ng phó bằng suy nghĩ v
vấn đề xy ra, ít nn nhân mun tr thù li th phm [4].
Nghiên cứu cũng đã thực hin phân tích tng nhóm nhân t v cách ứng phó để làm rõ hơn
v các cách ng phó ca HS, kết qu nghiên cứu được th hin Bng 4, 5, 6, 7 và Bng 8.
* Cách ng phó gii quyết vấn đề”