Ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán (phần 1)
1. Dn nhp
1.1. Quá trình hình thành và phát trin tiếng Việt, xét theo quan điểm giao lưu
(interchange) và tương tác (interaction), là quá trình tiếp xúc ngôn ngữ (TXNN).
thời kì hình thành đó là sgiao u và tương tác giữa các thứ tiếng thị tộc, bộ lạc
hoặc liên minh bộ lạc để hợp thành hạt nhân của tiếng Việt. Bắt đầu thời kì phát
triển, cùng vi các bước lưỡng phân(1), là nhng giai đoạn tiếp xúc của tiếng Việt
với các ngôn ngữ ngoại lai - được hiểu như các thứ tiếng ngoài gia đình ngôn ng
Nam Á (AA) và Nam Thái (AT) (P.Benedict, 1996). thời kì phát triển, sự tiếp
xúc ngôn ngữ Việt–Hán hay Việt–Trung (từ đây gọi chung ViệtHán) là dài lâu
nhất và hình thái tiếp xúc cũng có nhiều kiểu loại nhất. (Xem thêm ở phần 2)
1.2. Trong bài viết này có mấy từ (ngữ) khoá sau đây được sử dụng: tiếp xúc ngôn
ngữ, ứng xử ngôn ngữ, yếu tố gốc Hán. Thuộc số đó có từ (ngữ) đã quen thuộc,
nhưng khi xuất hiện trong bài viết này một đôi trường hợp mang một sắc thái hơi
khác.
Tiếp xúc ngôn ngữ là “sự tiếp giao nhau giữa các ngôn ngữ do những hoàn cảnh
cận kề nhau về mặt địa lí, tương liên về mặt lịch sử xã hội dẫn đến nhu cầu của các
cộng đồng người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau” (O.S.
Akhmanova, 1966). TXNN n được hiểu là “sự tác động qua lại giữa hai hoặc
nhiều ngôn ngữ tạo nên nh hưởng đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiu
ngôn ngữ. Những điều kiện xã hội của sự TXNN được quy định bởi nhu cầu cần
thiết phải giao tiếp lẫn nhau giữa những thành viên thuộc các nhóm dân tộc và
ngôn ngữ do những nhu cầu về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội v.v. thúc đẩy”
(V.N.Jarceva, 1990). Với tình hình TXNN ở Việt Nam, cũng như với một số nước
từng có sự xâm lược và chiếm đóng của một thế lực ngoại quốc, ta còn có thể thêm
vào đoạn dẫn trên: nhu cu giao tiếp giữa cư dân bản địa với những người thuộc bộ
máy cai trị và đội quân xâm ợc hoặc chiếm đóng ngoại quốc. Trong hình ti
TXNN này, sứng xử ngôn ngữ của cư dân bản đa là vấn đề hết sức tế nhị. Trong
nhiều trường hợp làm nổi rõ bản sắc dân tộc của cả một nền văn hoá.
Ứng xử ngôn ngữ (Language Treatment) có nội dung khái niệm thuộc lĩnh vực xã
hội ngôn ngữ học. Cách diễn đạt này được xem là tương đương với Kế hoạch hoá
ngôn ng (Language Plan/Planning). ng xử ngôn ngữ là sn phẩm của những
quyết định có ý thức về sự lựa chọn mã (code) trong hoạt động giao tiếp (John
Gibbons, 1992 ). Ứng xử ngôn ngữ mang tính xã hội được thể hiện trong chính
sách ngôn ngữ của nhà nước hoặc một tổ chức xã hi. Chẳng hạn chínhch ngôn
nghiện nay của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; chính sách
ngôn ngữ ca Đảng Cộng sản Đông Dương được thể hiện trong Đề cương văn hoá
Việt Nam m 1943. Ứng xử ngôn ngữ cũng có thể là slựa chọn của một người
về ngôn ngmà nh dùng trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn từ. Sự ứng xử
ngôn ngữ ca mỗi người được quy định bởi nhiều nhân tố vừa khách quan vừa chủ
quan, trong đó nhân tố chủ quan có tính quyết định. Ứng xử ngôn ngữ là một thành
phần về ứng xử n hoá. Do đó, truyền thống văn hoá, truyền thống ứng xử ngôn
ngữ của cộng đồng, của dân tộc có ảnh hưởng quan trọng đến thái độ ứng xử ngôn
ngữ của các thành viên trong cng đồng.
Yếu tố gốc Hán không chỉ là những từ bắt nguồn từ tiếng Hán a nay được gọi là
tHán - Việt. Trong bài này yếu tố gốc Hán được hiểu là tất cả những đặc điểm
hoặc thành tngôn ngữ nào mà qua stiếp xúc ngôn ngữ ViệtHán tiếng Hán có
thể có ảnh hưởng đến tiếng Việt ở mặt này hay mặt khác. Chẳng hạn các đặc điểm
về ngữ âm, đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp, các thành tố từ vựng ngữ nghĩa. Tuy
trong bài viết này các thành tố từ vựng ngữ nghĩa là ngliệu được đề cập đến
nhiều hơn, nhưng các phương diện khác của tiếng Hán cũng sẽ được nhắc đến khi
cần.
1.3. Trong nhiu trường hợp bài viết sử dụng các dn liệu ngôn ngữ rút từ những
công trình đã công bvà được thừa nhận rộng rãi của các tác giả khác cùng vi
những ngữ liu mà người viết bài này dùng trong các lập luận của mình. Đề cập
đến một vấn đề thuộc lĩnh vực xã hi - ngôn ngữ học, khi cần thiết chúng tôi cũng
đụng chạm đến những dẫn liệu thuộc các lĩnh vực ngoài ngôn ngữ để làm rõ tm
cho những lập luận liên quan vi hiện tượng nội tại ngôn ngữ.
2. Tiếp xúc ngôn ng Vit–n
2.1. Các giai đoạn tiếp c và đặc điểm
Trong khoa học nói đến thời kì hoặc giai đoạn tức là bàn về sự phân kì có tính lịch
đại (diachronic division of events into periods) về din tiến hay quá trình phát trin
của một hiện tượng, một sự kiện nào đó. Mỗi sự phân kì nhm vào một/vài mục
đích nhất định và có tiêu c định hướng cho sự phân kì. Sự phân kì hiện tượng
TXNN dựa vào các hình thái tiếp xúc, điều kiện xã hi - lịch sử và hệ quả mà s
TXNN dn tới về mặt cấu trúc cũng như về chức năng xã hi của ngôn ngữ.
2.2. Theo các định hướng trên đây ta có th hình dung sự phân chia quá trình tiếp
xúc VitHán thành sáu giai đoạn (hoặc thời kì):
Giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang chuyển sang Âu Lc.
Giai đoạn Triệu Đà sáp nhập lãnh th Âu Lc vào Nam Vit.
Giai đoạn Nam Vit b Đế quc Hán khut phc và lãnh th cũng như
dân Âu – Lc (t đây gọi một cách quy ước là Vit Nam)(2) trong cương vực
Nam Vit cũng b đế quc Hán thôn tính. Trong chính s Vit Nam giai
đoạn này được gi là Thi kì Bc thuc.
Giai đoạn nn độc lp (trong lch s có khi gi nn t ch) Việt Nam được
khôi phc xây dựng nhà nước Vit Nam theo chế độ vương quyền.
Giai đoạn Vit Nam b thực dân Pháp xâm lược và thiết lp chế độ thuộc đa
Pháp trên đất Vit Nam.
Giai đoạn Vit Nam giành quyn độc lp t tay thực dân Pháp cho đến nay.
2.2.1. Có th xem giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang (VL) và từ VL chuyển
sang nhà nước Âu - Lạc (ÂL) là khi điểm quá trình TXNN trên miền đất Việt thời
mở cõi, dựng nước này. Đây là thời kì của các huyn thoại và giả thiết, giống
như ở bất kì dân tộc và đất nước nào trên thế giới. Vì vậy nơi đây tồn tại nhiều
truyền thuyết, huyền thoại và trên cơ sở đó mà các nhà nghiên cu đã có nhng giả
thiết khác nhau về dân tộc Việt Nam hiện nay và về quá trình hình thành vùng khai
nguyên của Việt Nam hiện đại. Tiếp cận từ lí thuyết TXNN tathể hình dung
trước hết đó là quá trình tiếp xúc giữa các ngôn ngữ bản đa mà kết quả là shình
thành của tiếng Việt thi cổ(3). Tiếp theo đó là sự tiếp xúc với các thứ tiếng đến từ
ngoài vùng đất khai nguyên.
Vmặt này giả thiết mà K.W.Taylor đưa ra, theo tôi, là đáng cý hơn cả. Trong
sách Sra đời của Việt Nam, ngay trang đầu cơng I, tác giả đã dựa vào truyn
thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân trong Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ) và Đại Việt
sử kí toàn thư (TT), để giải thích cuộc hôn phối giữa hai nhân vật huyn thoại này.