
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HÀ
VËN DôNG QUAN HÖ NH¢N QU¶ §Ó PH¸T TRIÓN
N¡NG LùC NHËN THøC TÝNH QUY LUËT CñA HIÖN T¦îNG DI TRUYÒN
CHO HäC SINH LíP 12 - TRUNG HäC PHæ TH¤NG
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 9.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI – 2020

LUẬN ÁN ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn Khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đức Thành
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh
Trường ĐHSP – ĐH Thái Nguyên
Phản biện 2: PGS.TS Mai Văn Hưng
Trường ĐHGD – ĐHQG Hà Nội
Phản biện 3: TS Hoàng Hữu Niềm
Sở GD&ĐT Hà Nội
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng cấp Trường
Họp tại: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Vào hồi: ….giờ, ngày……….tháng…………năm 2020
\
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia.
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
1.
Nguyễn Thị Hà (2016). Xây dựng Graph nội dung để hệ thống hóa kiến thức
trong dạy học phần “Di truyền học” (Sinh học 12). Tạp chí Giáo dục, Bộ Giáo dục
và Đào tạo, ISSN: 23540753, số 376, Kì 2 -2/2016, tr51 - 53.
2.
Nguyễn Thị Hà (2016). Tích hợp Toán học trong việc hướng dẫn học sinh giải bài
tập Di truyền (Sinh học 12). Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội, ISSN 0866-8612,
tập 32, số 1 (2016), tr 68-72.
3.
Nguyễn Thị Hà (2019). Quy trình vận dụng quan hệ nhân quả trong dạy học nhằm
phát triển cho học sinh năng lực nhận thức tính quy luật của hiện tượng di truyền,
Sinh học 12 –THPT. Tạp chí Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, ISSN:
23540753, số 453, Kì 1 -5/2019, tr 40-45.
4.
Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thị Hà (2019). Quan hệ nhân quả trong Di truyền
học, Sinh học 12 ở THPT và định hướng hoạt động dạy học. Tạp chí Giáo dục, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, ISSN: 23540753, số Đặc biệt, 4/2019, tr 222-226.
5.
Nguyễn Thị Hà (2019). Xây dựng quy trình, tiêu chí và công cụ đánh giá năng
lực nhận thức tính quy luật của hiện tượng di truyền, Sinh học 12 – THPT. Tạp
chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, ISSN 2354-1075, tập 64, số 9C (2019), tr
45-52.

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Vấn đề đổi mới giáo dục đã được đưa vào nghị quyết của các Ðại hội Ðảng IX,
X, XI, được Bộ Giáo dục thực hiện trong Chương trình giáo dục phổ thông, chương trình
nhấn mạnh việc phát triển năng lực cho người học, từ đó người học chủ động lĩnh hội
kiến thức và làm chủ tri thức.
1.2. Những nghiên cứu về nhận thức (NT) và năng lực nhận thức (NLNT) đã được
quan tâm từ rất sớm. Khi xã hội phát triển thì vấn đề phát triển NLNT được đặc biệt
quan tâm. Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã nhấn mạnh những năng lực
cần đạt ở HS bao gồm năng lực chung và năng lực chuyên môn. Để đạt được những
năng lực đó thì năng lực đầu tiên cần được phát triển, đó chính là NLNT.
1.3. Trong chương trình Sinh học 12- THPT hiện hành, logic nội dung phần Di
truyền học (DTH) đã bắt đầu từ đi từ bản chất của vật chất di truyền (VCDT) là gen và
nhiễm sắc thể (NST), đến quá trình truyền VCDT ở các cấp độ, sau đó mới đến tính quy
luật của hiện tượng di truyền (HTDT). Tuy nhiên tính thống nhất logic vận động đã không
thể hiện triệt để tại “Chương II. Tính quy luật của hiện tượng di truyền”. Hầu hết các quy
luật di truyền ở từng bài trong chương II đều phát hiện thông qua các phép lai, đó là tiến
trình đi theo con đường từ hiện tượng tới bản chất, tức là đi theo con đường quy nạp. Nếu
dạy học theo tiến trình đó sẽ tốn nhiều thời gian, ít khai thác triệt để được kiến thức, đặc
biệt người học sẽ thụ động trong quá trình lĩnh hội kiến thức, không hiểu bản chất cốt lõi
của tất cả các quy luật, sẽ khó khăn trong việc khái niệm nào cần cho việc lĩnh hội các khái
niệm khác thì cần đặt lên trước. Không phát huy được NLNT của người học.
Bên cạnh đó, DTH đã phát triển tới trình độ lý thuyết thì việc dạy quy luật di truyền
(QLDT) theo con đường quy nạp sẽ tốn rất nhiều thời gian mà vẫn không hết lượng kiến
thức ngày càng khổng lồ. Từ đó cần tìm ra phương pháp giúp HS sẽ dễ dàng lĩnh hội được
lượng kiến thức di truyền ngày càng tăng lên, đảm bảo HS có thể tự học, sáng tạo, không
thụ động, thậm chí tự suy ra các ứng dụng thực tiễn. Để làm được điều đó thì con đường
đúng đắn nhất là con đường là đi từ bản chất tới hiện tượng, đó là con đường diễn dịch. Tức
là đi từ cơ chế truyền VCDT có tính quy luật, cơ chế tương tác giữa các gen trong kiểu gen
và giữa chúng với môi trường để hình thành tính trạng cũng có tính quy luật.
1.4. Với những phân tích về nội dung DTH học và con đường dạy học đi từ bản chất
tới hiện tượng thì đòi hỏi ở học sinh (HS) có sự phát triển trí tuệ ở mức xác định. Với HS
cấp THPT thì tri giác đã đạt tới mức cao, khả năng ghi nhớ, khả năng tư duy, khả ngăn suy
luận logic đã phát triển, do đó việc triển khai phương pháp học tập theo con đường diễn
dịch, con đường đi từ bản chất tới hiện tượng, từ nguyên nhân tới kết quả là hoàn toàn phù
hợp để phát triển NLNT cho HS.
* Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với mong muốn góp phần vào sự thành công
của công cuộc đổi mới giáo dục nói chung, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng dạy
học phần DTH ở THPT nói riêng, chúng tôi đã chọn đề tài “ Vận dụng quan hệ nhân

2
quả để phát triển năng lực nhận thức tính quy luật của hiện tượng di truyền cho HS
lớp 12 - THPT”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định mối quan hệ nhân quả của HTDT ở sinh vật, xác định cấu trúc NLNT tính
quy luật của HTDT, từ đó vận dụng quan hệ nhân quả để dạy học DTH nhằm phát triển
NLNT tính quy luật của HTDT cho HS, góp phần nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức
môn học.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Nguyên nhân, kết quả và quan hệ nhân quả của HTDT ở sinh vật.
- Phương pháp dạy học nhằm phát triển NLNT tính quy luật của HTDT cho HS.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học DTH ở trường THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu từ logic vận động và phát triển có tính quy luật của HTDT, xác định được các
cặp quan hệ theo hướng từ nguyên nhân xác định đến kết quả biểu hiện và sử dụng con
đường tổ chức hoạt động học tập đi từ nguyên nhân đến kết quả sẽ phát triển được
NLNT tính quy luật của HTDT ở HS và góp phần nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức
môn học.
5. Giới hạn nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về “Tính quy luật của HTDT”, xác định quan hệ nhân quả
của HTDT ở sinh vật, xác định cấu trúc NLNT tính quy luật của HTDT, từ đó vận dụng
quan hệ nhân quả để dạy học DTH nhằm phát triển NLNT tính quy luật của HTDT cho
HS, nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến
thức môn học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc vận dụng mối quan hệ nhân
quả vào dạy học DTH nói chung và “Chương II. Tính quy luật của hiện tượng di
truyền” nói riêng nhằm phát triển NLNT tính quy luật của HTDT cho HS 12-THPT
6.2. Phân tích cấu trúc, nội dung chương trình DTH ở THPT hiện nay để xác
định mục tiêu DTH, nội dung cốt lõi của DTH ở THPT, từ đó xác định quan hệ
nhân quả trong DTH và định hướng dạy DTH nói chung và “Chương II. Tính quy
luật của HTDT nói riêng” theo quan hệ nhân quả
6.3. Xác định cấu trúc NLNT tính quy luật của HTDT
6.4. Xác định nguyên tắc và quy trình xác định mối quan hệ nhân quả
6.5. Xác định nguyên tắc và quy trình dạy học theo quan hệ nhân quả
6.6. Xác định tiêu chí đánh giá NLNT tính quy luật của HTDT ở HS trong dạy
học vận dụng quan hệ nhân quả
6.7. Thực nghiệm sư phạm theo định hướng của đề tài nhằm khẳng định, đánh
giá giả thuyết nêu ra

