Văn học Vit Nam thời trung đại- Trần Đình Hượu
Trong lch s nghiên cứu văn học ca ta, t lâu nay mi quan h tác gi - tác phm -
công chúng đã được quan tâm mt cách đúng mức trên bình din ca lí luận văn học
macxit. Tuy nhiên, trong khi vn dụng, do đi từ cực đoan này sang cực đoan khác, “việc
chng li mt li nghiên cu xã hi hc dung tc, li nghiên cu qui kết mt cách gin
đơn sự khác bit mn màu mn v của văn chương ch [da] vào thái đ chính tr
ca tác gi, hay vic chng lại khuynh hướng ch quan hoá tác phẩm văn học, cho
rng mọi sáng tác đu ch là s th hin thế gii ni tâm của nhà văn cơ hồ đã khiến
các nhà nghiên cu ngi ngần khi đưa chính đi ngũ tác giả ra làm đối tượng phân
loi”(1) dù rng trên thc tế không phi không có nhng công trình đã bước đầu đặt ra
vấn đề đó. Trong giáo trình Văn học Vit Nam thế k X - XVIII, Đinh Gia Khánh đã đưa
ra mu mc v con người lí tưởng của văn học thế k X - XVII. Đó chính là s manh
nha ca nhng nghiên cứu theo hướng loi hình học. Tuy nhiên, như Bùi Duy Tân nói,
Đinh Gia Khánh đã không đi sâu hơn những nhận định ban đầu đó do thiên hướng hơn
bút lc.
Trong thi Trung đại, giai đoạn n hc thế k XVIII - nửa trước thế k XIX tht s
những đóng góp lớn v ni dung và ngh thut. Lí gii s tn ti và phát trin ca giai
đoạn văn học này, các nhà nghiên cứu văn học s đã đưa ra nhiều nhận định có tính
đồng thuận cao, coi văn chương thế k XVIII - nửa trước thế k XIX đạt đến trình độ
ngh thut cao nht trong nền văn chương cổ đin,“là kết qu ca s hoà hp gia
ngh thuật nhân dân trong văn chương truyền ming vi ngh thut phong kiến”
(1957)(2), “chu ảnh hưởng ca phong trào nông dân khi nghĩa bấy gi mà tr nên
phong phú sâu sc” (1957)(3). Vi những đóng góp về ni dung và hình thc củan
học giai đoạn này, có mt thi các nhà nghiên cu cho rng nó “mang nhiu tính cht
phi phong kiến (...), nói lên tình trng thi nát ca giai cp thng tr (...), đề cao hnh
phúc cá nhân, đối lp vi l giáo phong kiến” (1961)(4), có mt s tác phẩm “rơi vào
khuyết đim là ồn ào nhưng trng rỗng (...) đọc lên vn rất kêu nhưng lắm khi ni dung
thc sáo cũ” (1957)(5), coi mt s tác gi thuộc giai đoạn này như Nguyễn Công Tr là
đại din của “tư tưởng anh hùng cá nhân”và“tư tưởng hưởng lạc” (1961)(6), đồng thi
kì th vi c những người cui thế k XIX đầu thế k XX mang trong mình “căn bệnh cũ”
của giai đoạn văn học này như Dương Khuê và Chu Mạnh Trinh.
Đối din vi cách nhìn trên, trước tiên Trần Đình Hượu mun đánh giá công bằng vi
c giai đoạn lch s trong đó có sự tn ti ca nhà Nguyn, mt thi k lch s có được
quc gia thng nht, s gia nhp ca vùng cc Nam vào đời sống văn học nước n
và Huế thành th đô, thành trung tâm văn học thay cho Thăng Long. Trần Đình Hượu
cũng cho rng “các cuc khi nghĩa [nông dân] thường tht bi còn nếu cuc khi
nghĩa nào thành công thì (...) lp ra triều đình như cũ với th chế cũ (...). Cho nên
không thi khi nghĩa nông dân là động lc phát triển”(7). Để gii thích lch s văn
hc Vit Nam trung đại, mt luận điểm đáng chú ý của Trần Đình Hượu là phân loi
nhà nho. Đây là mt cách nhìn mới đi vi thc tế văn học thế k XVIII - nửa trước thế
k XIX, tưởng như đã được phân tích đến kit cùng. Vic phân loi ba mu nhà nho ca
Trn Đình Hượu, việc xác định v trí đặc thù ca đẳng cp nho sĩ trong xã hội Đông Á
truyn thng là mt “kiến gii - phát hin” quan trọng (...) giúp người đọc thoát ra khi
nhng tín niệm giáo điều và nhng suy din d dãi v giai cấp và đấu tranh giai
cp”(8).
Phi nói rằng trước Trần Đình Hượu khá lâu, Nguyễn Bách Khoa đã s dng khái nim
“nhà nho tài t” (1944) song không thy ông trin khai, phát trin rộng hơn. Sau
Nguyễn Bách Khoa, đã có những người quan tâm đến kiu tác gi nhà nho này và din
đạt bng mt sch khác nhau. Hoài Thanh gi hnhng nhà nho phóng
khoáng”(1949)(9), N. I. Niculin thì cho rng h “đã th hin rõ li sng t do và tài
t”(1971)(10), Xuân Diu thì gi h là “nhómi t”, “nhng tài t Trung Quc và Vit
Nam” (1981)(11)… nhưng, như Đỗ Lai Thuý ghi nhn, “có l ch Trần Đình Hượu,
được đặt trong h thng nghiên cu Nho giáo ca ông, ch này mi tr thành mt khái
nim khoa hc có giá tr thao tác”(12). Trên thc tế, tư tưởng v s tn ti ca loi hình
nhà nho tài t như là loại hình tác gi th ba của văn chương Nho giáo Vit Nam ln
đầu tiên được Trần Đình Hượu đề xut t những năm 1970 và lần đầu tiên được “hin
thực hoá” thành văn bản trong Luận n tt nghip đại hc ca Trn Ngọc Vương năm
1976. V sau, Trần Đình Hượu cng c thêm tư tưởng ca mình và trình bày kết hp
trong phn viết v Tản Đà trong Văn học Việt Nam giai đon giao thi 1900 - 1930, tuy
nhiên giáo trình này đến tận năm 1988 mi chính thức được xut bn.
Như chúng ta đều biết, không phi ngay t đầu và không phi lúc nào Trần Đình Hượu
cũng dùng mt cách gi duy nht là nhà nho tài t mà bng các khái nim tu theo văn
cảnh như “nhà nho quen cuộc sống đô thị” (1981), “người tài t” (1983), “nhà nho ngh
sĩ” (1986), “tài t” (1988), “nhà nho tài hoa” và mt mức độ nào đó là “những nhà nho
chán nn… tuy nhiên khái nim “nhà nho tài tử” được ông s dng nhiu nht - n
cạnh “nhà nho hành đạo” và “nhà nho n dt”, theo cách phân loi ca nhng người đi
trước. Theo ông, “khi đô thị phong kiến, nh s phát trin của thương nghiệp mà phát
triển đến có đời sng riêng so với nông thôn và cung đình, thì trong văn hc có thêm
một xu hướng phi chính thng của văn học nhà nho nữa. Đến tp trung đô thị sm
ut là nhiu hạng người t chiếng, giang h. Những người hc trò hng thi, nhng
khách thương, những người ca kĩ - đu thoát li khi s ràng buc của gia đình, h
hàng, làng xóm - gp nhau, cùng nhau sng nhng thiên tình s diu kì. Nhng nhà
nho chán nản ngoài thú vui gió trăng, nhàn dật còn có thú vui hành lc. (…)Chính
nhng nhà nho quen cuc sống đô thị đã đem Tài Tình đối lp vi Đức Tính, đưa Tài
Sắc đối lp vi Mnh, phá cái ca cm Tà, Dâm, ca tng tình yêu say đắm ngoài l
giáo, viết v nhng mi duyên kì ng “tài tửgiai nhân” (1981)(13). Đến năm 1983, ông
viết: “Xét v mt tác gi n học, hình như có mt s khác bit rt gia ba mu nhà
nho: người hành đạo, người n dật và người tài tử. Người hành đạo và người n dt là
con sinh đôi, thay thế nhau xut hin trong nhng tình thế khác nhau ca xã hi nông
thôn, cung đình, c hu. Cònngười tài t (...) là ch nhân nền văn học có mm mng
chống Nho giáo, có xu hướng nhân đo ch nghĩa như ngâm khúc, truyn Nôm (ch
tính các truyn tình yêu tài t giai nhân) và hát nói. Người n dật và người tài t du có
n án vua quan, (...) đòi quyn sng cho con người cũng không chống Nho giáo.
(...) toàn b sáng tác ca h (...) không chng quan niệm văn học Nho giáo”(14). Nhìn
t tính h thng ca c tng lp sĩ, Trần Đình Hượu cho rng “nhng tìm tòi (...) đáng
quan tâm nht (...) là nhng tìm tòi trong tng lp sĩ (…) họ luôn luôn phi suy nghĩ về
cách sng, nghĩ về nhng vấn đề trách nhim, hnh phúc, lc thú, v ý nghĩa cuc
sng. Vấn đề làm day dt các thế h nhà nho là la chn “xut, x”, ra làm quan hay
rút lui n dt. (...) Cuộc đấu tranh tư tưởng lặp đi lặp lại như thế to ra hai hình tượng
văn học, hai mẫu nhà nho: người hành đạo và người n dật. Người hành đạo ch tìm l
sng ca mình trong hc thuyết Nho giáo. Nhưng người n dt phi cu viện đến hc
thuyết Lão Trang hay Pht, tìm ý nghĩa cuộc đời ngoài cái Nho giáo ch cho h. V sau,
khi đô thị đã phát trin mnh, nhng nhà nho ngh sĩ quen sống cuc sống đô thị, tìm
hnh phúc và lc thú theo một hướng khác (...)là [nhng] nhà nho tài t”(1986)(15).
Qua trường hp các truyn Nôm tài t giai nhân, Trần Đình Hượu cho rng: “Tài t
cũng là nho sĩ (...) (...) nhưng lí tưởng làm người ca h (...) không ch tu thân, hành
đạo, trí quân trch dân mà là tho mãn tính cách th tài và đa tình (…). H không quan
tâm nhiều đến nghĩa quân thần, (...)đến trách nhim vi xã hi và còn đi xa hơn na
đối lp tình vi tính, tài với đc, t coi là nhng cá nhân chkhông còn là thn t (...).
Ước mong t do và hnh phúc ch mới đặt ra trong mt phm vi hp là tình yêu (...). Tài
t là những nhà nho chưa thể gi là “bội đạo, “li kinh” nhưng rõ ràng đã xa ri quĩ đạo
chính thng, tc là những nhà nho tu thân hành đạo hay n dt theo l xut
x”(1988)(16). Theo ông, có th chia các nhà nho sáng tác văn học thành hai nhóm,
“một nhóm tương đối chính thng và nhóm khác ít nhiu thoát li chính thng. Thuc xu
hướng chính thống làvăn chương những nhà nho hành đạo, gắn văn chương với Đạo,
Lí. (…) Thuộc xu hướng phi chính thống là văn chương của các nhà nho coi trng t do
t ti ca nhân (...) thường có trong các nhà nho n dt. (...) n dật và hành đạo
không đối lập nhau mà thường li thng nht trong mỗi người. () Đi lp vi mu
người hành đạo - n dt(...) là nhà nho tài t(1988)(17). Sau này ông còn tiếp tc gii
thuyết kĩ hơn khi cho rằng: “Chúng tôi chia nhà nho - ch k trong phạm vi sáng tác văn
hc - ra làm ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho n dt và nhà nho tài t. Nhà nho hành
đạo không phi là tt c nhng người thi đỗ, làm quan; nhà nho n dt không phi là tt
c các n sĩ, nht là không phi những người ch trương thoát tc; còn nhà nho tài t
thì cần đến mt thuyết minh phc tạp hơn; không nên lầm ln vi khái nim “tài t
thường dùng mà cũng không đồng nghĩa với khái nim “tài t” mà Kim Thánh Thán
dùng để đánh giá mt s tác phẩm văn học Trung Quc (...)” (1991)(18).
Có th nói vic s dng khái nim “nhà nho tài tử” như mt gi thuyết làm việc đã thc
s lôi cun gii nghiên cứu văn học trung đại. Nhng hc trò ca Trần Đình Hượu đã
vn dng khái niệmy để đi tiếp con đường ca mình như chuyên luận Loi hình hc
tác gi văn học - Nhà nho tài t và văn học Vit Nam (NXB Giáo dc, 1995) ca Trn
Ngọc Vương (vốn có cơ sở là Lun án mà ông bo v tại Nga năm 1992) và Luận án
Th hát nói trong s vận động ca lch s văn học (2000) ca Nguyễn Đức Mu
Trong công trình ca mình, Trn Ngc Vương đã lần lượt phân tích c ba loi hình tác
gi hành đạo, n dt và tài tử, trong đó tập trung vào phân tích loi hình nhà nho tài t
cũng như những đóng góp của lực lượng sáng tác này ti s phát trin của văn hc
Vit Nam thế k XVIII - nửa trước thế k XIX cùng nhng vĩ thanh của nó vọng đến văn
hc giao thi (Tản Đà) và phong trào Thơ mi, văn chương Tự lực văn đoàn. Ông đi
tìm ngun gc ca nhà nho tài t Trung Quc và Vit Nam, t Khut Nguyên đến
nhng bc “chí nhân” - con người lí tưởng ca hc thuyết Lão Trang - và các đấng
“trích tiên” - hình tượng văn học của Đạo gia đến nhà nho Nguyn Trãi… Theo ông,
“trong lch s lâu dài của các nước Đông Á, sau khi các lí luận, các hc thuyết bng bt
ny n thi Xuân Thu - Chiến Quốc đã lần lượt đi dần vào khuôn phép hay b tn dit,
ch còn tìm thy mt s định hướng bảo lưu được nhng “mnh tri riêng”, th đắc
được ít nhiu quyn t do độc lp (...) hin thực hóa được một vài đặc điểm phát trin
nhất định của con người cá nhân(...) [trong đó] nhà nho tài t, nói rộng hơn đây là
cp“tài t giai nhân”(1995)(19). Đây là đim mà Trn Ngọc Vương b sung nhưng
không thy ông nói rõ hơn vì đó là “các dng thc tn ti tin cá nhân” ch chưa hẳn
các “loi hình tác gi văn học”. Theo ý chúng tôi, nếu tha nhn s tn ti song song
ca cặp đôi kiểu tác gi tài t - tài n s bao quát được v mt tác gi văn học gm c
những người như Nguyễn Du và H Xuânơng, đây chưa xét Hồ Xuân Hương là
mt hiện tượng hay mt tác gi có thực. Điều này có cơ sở ngay trong sáng tác ca
những người đương thời, như trường hp Ninh Tn (1743 - ?) có tới 2 bài thơ mang
tên Kí tài n và Kí tài n Thu Liên. Theo Trn Ngọc Vương, các nhà nghiên cứu v
Nht Bn và Triu Tiên mà ông có dp tiếp xúc đã tha nhn vấn đề loi hình nhà nho
tài t “là mt vấn đề ý nghĩa toàn khu vc”(20), và riêng Vit Nam, “vic kho sát
s tiếp tc của văn chương tài tử trong văn học Vit Nam cn hiện đại đòi hi mt công
trình khác, ha hn nhiu ý nghĩa”(21).
Bên cnh Trn Ngọc Vương, Nguyễn Đức Mu... có nhiu nhà nghiên cu cũng sử