intTypePromotion=1

Xác định một số đặc tính sinh học và thử kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn P. multocida và S. suis phân lập được từ bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi tại Bắc Giang

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
8
lượt xem
0
download

Xác định một số đặc tính sinh học và thử kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn P. multocida và S. suis phân lập được từ bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi tại Bắc Giang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi theo bốn nhóm tuổi, đều đã phân lập được vi khuẩn S. suis và vi khuẩn P. multocida . Tính chung, cả bốn lứa tuổi (120 mẫu bệnh phẩm). Tỷ lệ phân lập được vi khuẩn S. suis là 51,67%; tỷ lệ phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn sau cai sữa 2-3 tháng tuổi cao nhất (59,46%) và thấp nhất là lợn con SS-1,5 tháng tuổi (39,29%); tỷ lệ phân lập được vi khuẩn P. multocida là 16,67%; tỷ lệ phân lập vi khuẩn P. multocida cao nhất ở lợn sau cai sữa 2-3 tháng tuổi (21,62%), tiếp đến là ở lợn vỗ béo 3 – 6 tháng tuổi (19,44%) và thấp nhất là ở lợn sơ sinh đến 1,5 tháng tuổi (7,14%).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Xác định một số đặc tính sinh học và thử kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn P. multocida và S. suis phân lập được từ bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi tại Bắc Giang

Trương Quang Hải và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 95(07): 15 - 19<br /> <br /> XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ THỬ KHÁNG SINH ĐỒ<br /> CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN P. MULTOCIDA VÀ S. SUIS PHÂN LẬP ĐƯỢC<br /> TỪ BỆNH PHẨM LỢN MẮC BỆNH VIÊM PHỔI TẠI BẮC GIANG<br /> Trương Quang Hải1*, Nguyễn Quang Tính1,Cù Hữu Phú2, Lê Văn Dương3<br /> 1<br /> <br /> Trường Đại học Nông lâm – ĐH Thái Nguyên, 2Viện Thú y Quốc gia,<br /> 3<br /> Chi cục Thú y Bắc Giang<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Trong các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi theo bốn nhóm tuổi, đều đã phân lập được vi<br /> khuẩn S. suis và vi khuẩn P. multocida . Tính chung, cả bốn lứa tuổi (120 mẫu bệnh phẩm). Tỷ lệ<br /> phân lập được vi khuẩn S. suis là 51,67%; tỷ lệ phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn sau cai sữa 2-3<br /> tháng tuổi cao nhất (59,46%) và thấp nhất là lợn con SS-1,5 tháng tuổi (39,29%); tỷ lệ phân lập<br /> được vi khuẩn P. multocida là 16,67%; tỷ lệ phân lập vi khuẩn P. multocida cao nhất ở lợn sau cai<br /> sữa 2-3 tháng tuổi (21,62%), tiếp đến là ở lợn vỗ béo 3 – 6 tháng tuổi (19,44%) và thấp nhất là ở<br /> lợn sơ sinh đến 1,5 tháng tuổi (7,14%). Đặc tính sinh học của 20 chủng vi khuẩn P. multocida và<br /> 62 chủng vi khuẩn S. suis phân lập được phù hợp với mô tả của các tài liệu trong và ngoài nước.<br /> Vi khuẩn P. multocida và S. suis phân lập được ở lợn tại Bắc Giang đều mẫm cảm cao với các loại<br /> kháng sinh như Ceftiofur, Florfenicol Amoxicillin, Ofloxacin và đều kháng với một số loại kháng<br /> sinh như neomycin, colistin, tetracycline, penicillin G.<br /> Từ khóa: Lợn - Viêm phổi – vi khuẩn P. multocida, S. suis<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Bắc Giang là tỉnh có nghề chăn nuôi lợn phát<br /> triển đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều<br /> hộ gia đình, theo thống kê chăn nuôi<br /> (01/10/2010) của Cục thống kê tỉnh Bắc<br /> Giang, tổng đàn lợn của tỉnh là 1.162.349 con<br /> (trong đó 185.655 lợn nái, 975.040 lợn thịt).<br /> Trong tỉnh có trên 450 trại chăn nuôi lợn tập<br /> trung (quy mô 20 nái và 100 lợn thịt trở lên).<br /> Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn<br /> nuôi lợn của tỉnh, góp phần phát triển chăn<br /> nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có<br /> sức cạnh tranh cao trên thị trường. Tuy nhiên,<br /> cũng như nhiều địa phương khác trong cả<br /> nước, chăn nuôi lợn tập trung theo quy mô<br /> lớn ở tỉnh Bắc Giang đã và đang gặp rất nhiều<br /> khó khăn, đặc biệt là dịch bệnh, ảnh hưởng<br /> lớn tới năng suất chăn nuôi. Trong vài năm<br /> gần đây hội chứng viêm phổi đã xuất hiện rất<br /> phổ biến trên đàn lợn của tỉnh Bắc Giang.<br /> Mặc dù tỉ lệ chết không cao nhưng gây thiệt<br /> hại lớn về kinh tế do sinh trưởng chậm, hiệu<br /> quả sử dụng thức ăn thấp, bệnh thường kéo<br /> dài, chi phí thuốc thú y cao, đặc biệt nghiêm<br /> trọng khi bệnh xẩy ra đồng thời với hội chứng<br /> rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRR) làm tổn<br /> thất nặng nề về kinh tế, gây hoang mang cho<br /> *<br /> <br /> Tel: 0988 675651<br /> <br /> người chăn nuôi. Hội chứng viêm phổi ở lợn<br /> do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do một<br /> hay nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau hoặc<br /> tạo điều kiện cho nguyên nhân thứ phát gây<br /> bệnh làm cho đặc điểm của bệnh đường hô<br /> hấp rất đa dạng. Trong số đó phải kể đến<br /> bệnh viêm phổi ở lợn thường do các loại vi<br /> khuẩn như: Actinobacillus pleuropneumoniae,<br /> Pasteurella multocida và Streptococcus suis<br /> gây ra.<br /> Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện về<br /> vi khuẩn Pasteurella multocida và<br /> Streptococcus suis trong Hội chứng viêm phổi<br /> ở lợn tại tỉnh Bắc Giang là rất cần thiết và là<br /> một yêu cầu cấp bách, từ đó xác định được<br /> giải pháp phòng chống bệnh có hiệu quả kinh<br /> tế cao nhất cho người chăn nuôi.<br /> NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Nội dung nghiên cứu<br /> - Phân lập vi khuẩn P. multocida và S. suis<br /> từ bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi tại<br /> Bắc Giang.<br /> - Xác định một số đặc tính sinh học của các<br /> chủng P. multocida và S. suis phân lập được.<br /> - Thử kháng sinh đồ với các chủng vi khuẩn<br /> P. multocida và S. suis phân lập được.<br /> 15<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trương Quang Hải và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Đối tượng, vật liệu nghiên cứu<br /> - Mẫu bệnh phẩm là phổi, cuống họng của lợn<br /> bị ốm, chết có biểu hiện triệu chứng, bệnh<br /> tích của bệnh viêm phổi, viêm đường hô hấp<br /> tại tỉnh Bắc Giang.<br /> - Các loại môi trường nuôi cấy, phân lập,<br /> kiểm tra đặc tính sinh học của vi khuẩn đường<br /> hô hấp; hoá chất, dụng cụ, máy móc phòng thí<br /> nghiệm nghiên cứu vi sinh vật (Bộ môn vi<br /> trùng-VTY).<br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> - Các phương pháp phân lập, giám định, làm<br /> kháng sinh đồ vi khuẩn P. multocida và vi<br /> khuẩn S. suis được thực hiện theo quy trình<br /> nghiên cứu của bộ môn vi trùng, Viện Thú y<br /> Quốc gia.<br /> - Số liệu được xử lý theo phương pháp toán<br /> học thông dụng.<br /> KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> Kết quả phân lập S. suis và P. multocida từ<br /> mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi<br /> tại Bắc Giang.<br /> Đề tài đã tiến hành phân loại các mẫu bệnh<br /> phẩm từ lợn mắc bệnh viêm phổi ở tỉnh Bắc<br /> Giang theo bốn nhóm tuổi. Kết quả phân lập<br /> được trình bày ở bảng 1.<br /> Kết quả ở bảng 1 cho thấy: trong các mẫu<br /> bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi theo bốn<br /> nhóm tuổi, đều đã phân lập được vi khuẩn S.<br /> suis và vi khuẩn P. multocida. Tính chung, cả<br /> bốn lứa tuổi (120 mẫu bệnh phẩm): Tỷ lệ<br /> phân lập được vi khuẩn S. suis là 51,67%; tỷ<br /> lệ phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn sau cai sữa<br /> 2-3 tháng tuổi cao nhất (59,46%) và thấp nhất<br /> là lợn con SS-1,5 tháng tuổi (39,29%). Tỷ lệ<br /> <br /> 95(07): 15 - 19<br /> <br /> phân lập được vi khuẩn P. multocida là<br /> 16,67%; tỷ lệ phân lập vi khuẩn P. multocida<br /> cao nhất ở lợn sau cai sữa 2-3 tháng tuổi<br /> (21,62%), tiếp đến là ở lợn vỗ béo 3 – 6 tháng<br /> tuổi (19,44%) và thấp nhất là ở lợn sơ sinh<br /> đến 1,5 tháng tuổi (7,14%). Kết quả phân lập<br /> vi khuẩn S. suis trong nghiên cứu này phù<br /> hợp với kết quả nghiên cứu của Vecht và<br /> cộng sự (1985) tiến hành phân lập ở lợn tại<br /> Hà Lan đã xác định tỷ lện nhiễm vi khuẩn S.<br /> suis là 42%. Nhưng tỷ lệ này lại thấp hơn so<br /> với kết quả của Trịnh Phú Ngọc (2002) khi<br /> tiến hành phân lập vi khuẩn S. suis từ hạch<br /> phổi của lợn ốm, chết nghi mắc bệnh do vi<br /> khuẩn S. suis gây nên của một số cơ sở chăn<br /> nuôi (tỷ lệ phân lập bình quân chung là<br /> 95,45%). Nghiên cứu về bệnh đường hô hấp<br /> của lợn của Cù Hữu Phú (1998) cho biết tỷ lệ<br /> phân lập vi khuẩn S. suis từ phổi và hạch phổi<br /> là 72%. Tuy nhiên, với các tỷ lệ phân lập S.<br /> suis là khá cao 51,67% đã cho thấy vi khuẩn<br /> này đã đóng vai trò quan trọng gây viêm phổi<br /> ở lợn tại các địa phương của tỉnh Bắc Giang<br /> trong thời gian qua. Kết quả phân lập vi<br /> khuẩn P. multocida trong nghiên cứu này<br /> phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn<br /> Ngọc Nhiên (1996) khi nghiên cứu 72 phổi<br /> lợn có bệnh tích bị nhục hóa, áp xe và viêm<br /> màng phổi cho biết: tỷ lệ nhiễm P. multocida<br /> là 37,5%, tỷ lệ nhiễm S. suis là: 30,5%;<br /> Nguyễn Quang Tuyên và cs (2007) phân lập<br /> vi khuẩn P. multocida từ bệnh phẩm lợn chết<br /> nghi mắc bệnh tụ huyết trùng cho kết quả: ở<br /> tỉnh Thái Nguyên phân lập vi khuẩn P.<br /> multocida là 19,23%, Tuyên Quang (24,44%)<br /> và Bắc Kạn (26,00%).<br /> <br /> Bảng 1. Kết quả phân lập S. suis và P. multocida từ mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi<br /> ở các lứa tuổi khác nhau<br /> S. suis<br /> P. multocida<br /> Số mẫu<br /> Đối tượng<br /> Số mẫu<br /> Tỷ lệ<br /> Số mẫu<br /> Tỷ lệ<br /> kiểm tra<br /> (+)<br /> (%)<br /> (+)<br /> (%)<br /> Lơn con SS-1,5 tháng tuổi<br /> 28<br /> 11<br /> 39,29<br /> 2<br /> 7,14<br /> Lợn sau cai sữa >1,5-3<br /> 37<br /> 22<br /> 59,46<br /> 8<br /> 21,62<br /> tháng tuổi<br /> Lợn vỗ béo >3-6 tháng tuổi<br /> 36<br /> 20<br /> 55,56<br /> 7<br /> 19,44<br /> Lợn nái<br /> 19<br /> 9<br /> 47,37<br /> 3<br /> 15,79<br /> Tính chung<br /> 120<br /> 62<br /> 51,67<br /> 20<br /> 16,67<br /> <br /> 16<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trương Quang Hải và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Kết quả giám định một số đặc tính sinh<br /> học của các chủng vi khuẩn S. suis phân<br /> lập được<br /> Với 62 chủng S. suis phân lập được đem kiểm<br /> tra các đặc tính sinh học, chúng tôi thu được<br /> kết quả được trình bày ở bảng 2<br /> Kết quả cho thấy, tất cả các chủng vi khuẩn S.<br /> suis phân lập được đều mang các đặc tính<br /> sinh học đặc trưng của vi khuẩn S.suis theo<br /> như mô tả của Quinn và cs (2004) như sau:<br /> Các chủng vi khuẩn đều bắt màu gram dương,<br /> có hình cầu hoặc bầu dục, xếp thành các<br /> chuỗi có độ dài ngắn khác nhau. Trên môi<br /> trường thạch máu, vi khuẩn hình thành các<br /> khuẩn lạc nhỏ, trắng trong, hơi lồi và gây<br /> dung huyết kiểu α, β, γ. Vi khuẩn mọc tốt trên<br /> môi trường MacConkey tạo thành các khuẩn<br /> lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim, lồi, trắng trong.<br /> Đặc biệt, vi khuẩn không mọc trong môi<br /> trường nước muối NaCl 6,5%.Tất cả các<br /> chủng đều âm tính với các phản ứng Indol,<br /> Oxidase, Catalase. 100% các chủng lên men<br /> các đường: glucose, galactose, lactose,<br /> maltose; 95,65% số chủng không lên men<br /> đường trehalose và không có chủng nào lên<br /> men các đường mannitol, sorbitol, mannit.<br /> Kết quả giám định một số đặc tính sinh học<br /> của các chủng vi khuẩn P. multocida phân<br /> lập được<br /> Chúng tôi đã tiến hành giám định một số đặc<br /> tính sinh học của 20 chủng vi khuẩn P.<br /> multocida phân lập được. Kết quả thu được<br /> <br /> 95(07): 15 - 19<br /> <br /> trình bày ở bảng 3. Kết quả cho thấy: Cả 20<br /> chủng P. multocida kiểm tra đều bắt màu<br /> gram âm, kích thước nhỏ, dạng cầu trực<br /> khuẩn hoặc hình trứng. Các chủng đều mọc<br /> tốt trên môi trường thạch máu nhưng không<br /> gây dung huyết và đều không mọc trên môi<br /> trường Mac Conkey. Tất cả các chủng đều<br /> cho kết quả phản ứng Indol, Oxidase,<br /> Catalase dương tính. Tất cả các chủng đều lên<br /> men các loại đường: glucose, galactose,<br /> mannitol, saccharose, fructose và không lên<br /> men lactose, maltose, arabinose. Các kết quả<br /> kiểm tra này đều phù hợp với mô tả của<br /> Carter (1984) về đặc tính sinh học của vi<br /> khuẩn P. multocida.<br /> Tổng hợp kết quả giám định có thể khẳng<br /> định các chủng vi khuẩn P. multocida mà<br /> chúng tôi phân lập được mang đầy đủ các đặc<br /> tính sinh học đặc trưng của vi khuẩn P.<br /> multocida.<br /> Thử kháng sinh đồ cho các chủng vi khuẩn<br /> S. suis và P. multocida phân lập được<br /> Để điều trị bệnh do vi khuẩn gây ra có hiệu<br /> quả, vấn đề quan trọng là xác định loại kháng<br /> sinh, hoá dược nào có hiệu lực cao, ức chế<br /> hoặc tiêu diệt mầm bệnh và nâng cao sức đề<br /> kháng của cơ thể gia súc. Trong nghiên cứu<br /> này, khả năng mẫn cảm kháng sinh của 62<br /> chủng vi khuẩn S. suis và 20 chủng P.<br /> multocida với 10 loại kháng sinh kháng sinh<br /> khác nhau đã được kiểm tra, đánh giá. Kết<br /> quả được trình bày ở bảng 4.<br /> <br /> Bảng 2. Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của các chủng S. suisphân lập được<br /> Chỉ tiêu kiểm tra<br /> Gram dương<br /> NaCl 6,5%<br /> Dung huyết<br /> MacConkey<br /> Indol<br /> Oxidase<br /> Catalase<br /> Glucose<br /> Galactose<br /> Lactose<br /> Maltose<br /> Mannitol<br /> Sorbitol<br /> Trehalose<br /> Mannit<br /> <br /> Số chủng<br /> kiểm tra (n)<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> <br /> Số chủng<br /> dương tính (n)<br /> 62<br /> 0<br /> 62<br /> 62<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 62<br /> 0<br /> 0<br /> 60<br /> 0<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> (%)<br /> 100,0<br /> 0,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 0,0<br /> 0,0<br /> 0,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 0,0<br /> 0,0<br /> 96,77<br /> 0,0<br /> <br /> Quinn và cs (2004)<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> -<br /> <br /> 17<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trương Quang Hải và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 95(07): 15 - 19<br /> <br /> Bảng 3. Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn P. multocida phân lập được<br /> Chỉ tiêu kiểm tra<br /> Gram âm<br /> Dung huyết<br /> MacConkey<br /> Indol<br /> Oxydase<br /> Catalase<br /> Glucose<br /> Galactose<br /> Lactose<br /> Maltose<br /> Mannitol<br /> Saccharose<br /> Arabinose<br /> Fructose<br /> <br /> Số chủng<br /> kiểm tra<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> <br /> Số chủng<br /> dương tính<br /> 20<br /> 0<br /> 0<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 20<br /> 0<br /> 0<br /> 20<br /> 20<br /> 0<br /> 20<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> (%)<br /> 100,0<br /> 0,0<br /> 0,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 0,0<br /> 0,0<br /> 100,0<br /> 100,0<br /> 0,0<br /> 100,0<br /> <br /> Theo Carter (1984)<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> <br /> Bảng 4. Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ với các vi khuẩn phân lập được<br /> Loại kháng<br /> sinh<br /> Penicillin G<br /> Amikacin<br /> Florfenicol<br /> Tetracycline<br /> Ceftiofur<br /> Ofloxacin<br /> Streptomycin<br /> Amoxicillin<br /> Neomycin<br /> Colistin<br /> <br /> P. multocida<br /> (n = 20)<br /> Số chủng<br /> mẫn cảm<br /> 7<br /> 13<br /> 18<br /> 8<br /> 19<br /> 15<br /> 14<br /> 16<br /> 6<br /> 11<br /> <br /> S. suis<br /> (n= 62)<br /> Tỷ lệ<br /> (%)<br /> 35,00<br /> 65,00<br /> 90,00<br /> 40,00<br /> 95,00<br /> 75,00<br /> 70,00<br /> 80,00<br /> 30,00<br /> 55,00<br /> <br /> Kết quả bảng 4 cho thấy: vi khuẩn P.<br /> multocida mẫm cảm nhiều với các loại kháng<br /> sinh ceftiofur (95,00%), florfenicol (90,00%),<br /> amoxicillin (80,00%), ofloxacin (75,00%),<br /> streptomycin chiếm (70,00%) và kháng với<br /> một số loại kháng sinh như neomycin với tỷ<br /> lệ 70,00%, penicillin G chiếm tỷ lệ 65,00%,<br /> tetracycline chiếm tỷ lệ 60,00%; còn đối với<br /> vi khuẩn S. suis mẫm cảm cao với các loại<br /> kháng sinh ceftiofur (95,16%), florfenicol<br /> (90,32%), amoxicillin (82,25%), ofloxacin<br /> (75,80%), amikacin (72,58%) và kháng một<br /> số loại kháng sinh như streptomycin 69,36%,<br /> neomycin chiếm 64,52%, colistin 58,16%,<br /> tetracycline 83,23%, penicillin G 48,39%.<br /> <br /> Số chủng<br /> mẫn cảm<br /> 32<br /> 45<br /> 56<br /> 29<br /> 59<br /> 47<br /> 19<br /> 51<br /> 22<br /> 26<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> (%)<br /> 51,61<br /> 72,58<br /> 90,32<br /> 46,77<br /> 95,16<br /> 75,80<br /> 30,64<br /> 82,25<br /> 35,48<br /> 41,94<br /> <br /> Như vậy, cả hai loại vi khuẩn trên đều mẫn<br /> cảm cao với các loại kháng sinh như ceftiofur,<br /> florfenicol, amoxicillin, ofloxacin và đều<br /> kháng với một số loại kháng sinh như<br /> neomycin, colistin, tetracycline, penicillin G.<br /> KẾT LUẬN<br /> Trong các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh<br /> viêm phổi theo bốn nhóm tuổi, đều đã phân<br /> lập được vi khuẩn S. suis và vi khuẩn P.<br /> multocida . Tính chung, cả bốn lứa tuổi (120<br /> mẫu bệnh phẩm): Tỷ lệ phân lập được vi<br /> khuẩn S. suis là 51,67%; tỷ lệ phân lập vi<br /> khuẩn S. suis từ lợn sau cai sữa 2-3 tháng tuổi<br /> cao nhất (59,46%) và thấp nhất là lợn con SS-<br /> <br /> 18<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trương Quang Hải và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 1,5 tháng tuổi (39,29%). Tỷ lệ phân lập được<br /> vi khuẩn P. multocida là 16,67%; tỷ lệ phân<br /> lập vi khuẩn P. multocida cao nhất ở lợn sau<br /> cai sữa 2-3 tháng tuổi (21,62%), tiếp đến là ở<br /> lợn vỗ béo 3 – 6 tháng tuổi (19,44%) và thấp<br /> nhất là ở lợn sơ sinh đến 1,5 tháng tuổi<br /> (7,14%). Đặc tính sinh học của 20 chủng vi<br /> khuẩn P. multocida và 62 chủng vi khuẩn S.<br /> suis phân lập được phù hợp với mô tả của các<br /> tài liệu trong và ngoài nước. Vi khuẩn P.<br /> multocida và S. suis đều mẫm cảm cao với<br /> các loại kháng sinh như ceftiofur, florfenicol,<br /> amoxicillin, ofloxacin và đều kháng với một<br /> số loại kháng sinh như neomycin, colistin,<br /> tetracycline, penicillin G.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1]. Trịnh Phú Ngọc (2002), Nghiên cứu một số<br /> đặc tính sinh vật và độc lực của vi khuẩn S. suis<br /> gây bệnh ở lợn tại một số tỉnh, Luận án Tiến sĩ<br /> Nông nghiệp, Viện Thú y Quốc Gia, Hà Nội.<br /> [2]. Cù Hữu Phú (1998), Kết quả phân lập và xác<br /> định một số tính chất vi khuẩn học của S. suis sp,<br /> <br /> 95(07): 15 - 19<br /> <br /> gây bệnh ở lợn một số tỉnh phía Bắc, Báo cáo<br /> khoa học Viện thú y 1998.<br /> [3]. Nguyễn Ngọc Nhiên (1996), Vai trò của<br /> một số vi khuẩn đường hô hấp trong hội chứng<br /> ho thở truyền nhiễm ở lợn và biện pháp phòng<br /> trị, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp,<br /> Hà Nội.<br /> [4]. Đỗ Quốc Tuấn, Nguyễn Quang Tuyên (2007),<br /> “Kết quả kiểm tra độc lực và tính mẫn cảm kháng<br /> sinh của Pasteurella multocida phân lập được từ<br /> lợn tại khu vực miền núi phía bắc”, Tạp chí KHKT<br /> Thú y, 14(6), tr. 46-51.<br /> [5]. Nguyễn Quang Tuyên, Đỗ Quốc Tuấn (2007),<br /> “Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida<br /> ở lợn tại khu vực miền núi phía bắc”, Tạp chí<br /> Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, số 15, tr.<br /> 45-47.<br /> [6]. Vecht U., Van Leengoed L. A. M. G and<br /> Verheijen E. R. M. (1985), S. suis suis infections<br /> in pigs in the Netherlands (part I). Vet Quart , No.<br /> 7, pp. 315-321.<br /> [7]. Carter G.R. (1984), Pasteurella, Yersinia, and<br /> Franciella, pp. 111 - 121 in: Diagnostic<br /> procedures in veterinary bacteriology and<br /> Mycology 4th ed (Carter G.R, ed), Charles C,<br /> Thomas Publisher, Springfield.<br /> <br /> SUMMARY<br /> DETERMINING SOME BIOLOGICAL CHARECTERISTICS AND<br /> EXPERIMENTING (MED.) ANTIBIOGRAMME ON SOME MICROBIAL<br /> SPECIES SUCH AS P. MULTOCIDA AND S. SUIS SEPERATED FROM SWABS<br /> OF PNEUMONIA INFECTED PIGS IN BAC GIANG<br /> Truong Quang Hai1*, Nguyen Quang Tinh1, Cu Huu Phu2, Le Van Duong3<br /> 1<br /> <br /> College of Agriculture and Forestry – TNU, 2National Institute of Veterinary<br /> 3<br /> Bac Giang Department of Veterinary<br /> <br /> In swab samples of pneumonia infected pigs based on four groups of different ages, S. suis and P.<br /> multocida bacterium were separated. In total, all groups of different ages (120 swab samples).<br /> Successful separating rate of S. suis bacteria was 51.67%. The separating rate of S. suis was<br /> highest (59.46%) in post-weaning pigs of 2-3 month old and was lowest in young pigs of from<br /> new-born to 1.5 month old (39.29%). Successful separating rate of P. multocida was 16.67%. The<br /> separating rate of P. multocida was highest (21.62%) in post-weaning pigs of 2-3 month old,<br /> followed by growers from 3-6 months of age and lowest in young pigs of from new-born to 1.5<br /> month old (7.14%). Biological characteristics of 20 bacterial species of P. multocida and 62<br /> bacterial species of S.suis successfully separated were in agreement with domestic and<br /> international documents’ description. P. multocida and S. suis bacterium which were separated<br /> from pigs in Bacgiang was highly susceptible with types of antibiotic such as ceftiofur, florfenicol<br /> amoxicillin and ofloxacin. They, however, resisted with types of antibiotic including neomycin,<br /> colistin, tetracycline, and penicillin G.<br /> Key words: Pigs – Pneumonia – P. multocida, S. suis bacteria.<br /> <br /> Ngày nhận bài:12/6/2012, ngày phản biện:19/6/2012, ngày duyệt đăng:27/7/2012<br /> *<br /> <br /> Tel: 0988 675651<br /> <br /> 19<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản