Y học Cổ truyền với miễn dịch và
khả năng kháng khuẩn
(K 3)
Quan sát lâm sàng và thực nghiệm, người ta thấy một số thuốc trừ tà tác
dụng ức chế c phản ứng quá mẫn, tuy mức độ khác nhau nhưng đều đạt kết
quả điều trị tốt.
Học viện Y 1 - Thượng Hải chọn mặt bệnh luput ban đỏ để nghiên cứu tác
dụng của thuốc “hoạt huyết - hóa ứ là chủ”.
- Cẩm Hồng Phương dùng bài thuốc hoạt huyết - hóa ( gồm: Đại hoàng,
hồng hoa, xích thược, bạch thược, tần cửu, hoàng tinh, cam thảo) để điều trị luput
ban đỏ. Dựa vào chtiêu miễn dịch trước sau điều trị, tác giả kết luận thuốc
hoạt huyết hóa ứ tác dụng ức chế phản ứng quá mẫn.
- Tần Vạn Chương lấy dịch triết của xích thược, hoàng đằng dưới dạng
thuốc tiêm và dùng thuốc hoạt huyết - hóa ứ điều trị luput ban đỏ, quan sát điều tr
đến khi bệnh ổn định thấy các chỉ tiêu miễn dịch của đều được cải thiện. Đồng
thời trải qua hàng chục năm nghiên cứu kết hợp dùng vị thuốc lôi công đằng chế
tễ” (chế phẩm từ cây rau má) để điều trị luput ban đỏ, tác giả nhận thấy tỷ lệ khỏi
cao (79,4 » 91%), các triệu chứng phát sốt, đau khớp , tổn thương da đều được cải
thiện ; các tổn thương nội tạng đều chuyển biến tốt. Các xét nghiệm hệ thống
máu, anbumin niệu, chức năng gan và thận đều được cải thiện tốt, tốc độ máu lắng
h thấp; Các chỉ tiêu miễn dịch tế bào, globulin miễn dịch, chức năng tế bào
limpho đều chuyển biến tốt.Tác giả rút ra kết luận: lôi công đằng tác dụng
chống viêm, điều tiết công năng miễn dịch. Những nghiên cứu của Viện Y 1 -
Thiên Tân đã ứng dụng thuốc thanh nhiệt - giải độc: Kim ngân hoa, liên kiều, bản
lam căn (rễ của thanh đại diệp - chàm mèo - cây bmắm), nhưng thanh đại diệp
là chính để ức chế phản ứng quá mẫn trong điều trị bệnh luput ban đỏ, có hiệu quả
rõ rệt.
Học viện Trung y - Quảng Châu dùng bài “thanh ôn bại độc ẩmđể điều trị
bệnh viêm da - thần kinh cũng thu được kết quả tốt. Thuốc thanh nhiệt - giải độc
không những tác dụng kháng khuẩn, kháng bệnh độc cảm nhiễm mà n th
ức chế phản ứng quá mẫn, tiêu trphức hợp miễn dịch, từ đó ức chế hiệu quả
các phản ứng miễn dịch.
2.3.2. Tác dụng tăng cường miễn dịch của thuốc trừ tà:
+ Căn cứ vào nghiên cứu thực nghiệm các hội chứng "thực chứng" người ta
nhân thấy một số thuốc hoạt huyết - a và thanh nhiệt - giải độc c dụng
tăng cường miễn dịch bao gồm: số lượng bạch cầu tăng cao, xúc tiến bạch cầu
khổng lồ tăng thực bào, xúc tiến tăng chuyển hóa tế bào limpho, hình thành các
IL2 (Interlerkill2), hình thành kháng thể. Thông qua sử dụng một số thuốc điều
trtrên m sàng nhiều tác giả đã thu được kết quả nhất định. Tổng hợp các báo
cáo phát hiện phương thuốc bạch hổ thangtác dụng xúc tiến chức năng thực
bào của đại thực bào tương đối tốt. Bài quế chi gia truật thang” tác dụng ức
chế quá mẫn, trung hòa kháng nguyên và sn sinh kháng thể.
Thực nghiệm còn chứng minh, bài thuốc “bài nùng thang” “bài nùng
tán” đều có tác dụng ức chế rõ đối với bạch cầu đa nhân. Kết qủa thực nghiệm trên
chuột cống cho thấy 2 phương thuốc trên đều tác dụng ức chế và xúc tiến dòng
bạch cầu đa nhân, c dụng này phthuộc vào loại thuốc và nồng độ thuốc; bài
thuốc “tiểu thanh long thang” tác dụng ức chế globulin E miễn dịch (IgE), ức
chế quá mẫn.
Ngoài ra, các loi thuốc trừ tà, thuốc lợi thấp - phong phần nhiều tác
dụng tiêu vm thoái mn.
+ Các phương thuốc thường dùng là: “ma hoàng thang”, phong thanh
nhiệt ẩm”, tr thấp vị linh thang”, “tần cửu ngưu bàng thang”, đan bì ẩm”,
“toàn trùng phương”, “lương huyết giải độc thang”, “long đờm thảo tả can thang”.
+ Những báo cáo lâm sàng về tác dụng tăng cường miễn dịch của thuốc tr
ngày càng nhiều, nhưng thực nghiệm chưa được đầy đủ. Tuy nhiên, người ta
cũng thống nhất kết luận thuốc phù chính và trđều tác dụng điều tiết miễn
dịch. Trên lâm sàng thường dùng kết hợp cả hai phương pháp này để điều trị bệnh
ngoài da.
- Theo báo cáo của Vương Đức Tuệ, phối hợp thuốc phù chính - trtà với
lôi công đằng (tích tuyết thảo) để điều trị 36 bệnh nhân vẩy nến (ngân tiết bệnh)
thấy có hiệu quả khá mỹ mãn. Trong điều trị , tác giả đã chọn dùng lôi công đằng
kết hợp với biện chứng luận trị , lựa chọn một số thuốc phù chính - trđể tổ
chức phương thuốc:
- Một số vị thuốc thường dùng để trừ tà: Thphục linh, bạch hoa thiệt
thảo, tử thảo, hoàng liên, hoàng cm, sơn đậu căn, long quí, ô tiêu xà, chích ngô
công, cương tàm, kim ngân hoa, khổ sâm, xuyên khung, đan m, nga truật, đại
hoàng thuyền y. Một số vị thuốc thường dùng đphù chính: Đẳng m, hoàng
kỳ, thủ ô, sinh địa, xích bạch thược, bạch truật, phục linh, hồng táo, hoàng tinh,
sơn dược, biển đậu, thích ngũ gia bì, hoàng kthích (hoàng kỳ gai).
- Theo báo cáo của Tôn Khánh Quí: Dùng các thuốc thanh nhiệt - giải độc ,
hoạt huyết - hóa và bdưỡng k- huyết kết hợp với quế chi tạo thành “quế
thanh thang” đã điều trị khỏi cho 9 bệnh nhân vẩy nến thể mụn mủ.
Phương thuốc:
Phục linh 15g Quế chi 15g
Đan bì 15g Đào nhân 15g
Bạch thược 15g Hoàng liên 10g
Hoàng cầm 15g Hoàng bá 15g
Sinh thục địa 15g Đương qui 15g
Xuyên khung 15g Hoàng k 30g.
Tất cả những báo cáo dẫn liệu trên chứng tỏ thuốc phù chính - tr
dùng để điều trị đều liên quan mật thiết đến vấn đề miễn dịch,
hoặc là ức chế hoặc là tăng cường hay điều hòa miễn dịch.
Chính vậy sử dụng các thuốc này đã thu được nhiều kết quả
đáng khích lệ trong điều trị lâm sàng.