64
TP C KHOA HC
Bùi Thnh (2023)
Khoa hc Xã hi
(31): 64 - 69
N D Ý NIỆM “THIÊN NHIÊN LÀ CON NGƢỜI”
TRONG THƠ HIỆN ĐẠI VIT NAM
(THUC SGK NG VĂN TRUNG HỌC PH THÔNG)
Bùi Th Bình
Trường THPT Tô Hiệu, TP. Sơn La
Tóm tt: Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ một công cụ hữu hiệu để con người ý
niệm hoá các khái niệm trừu tượng. Ẩn dụ tri nhận là hình thái tư duy của con người về thế giới.
Tiếp cận các tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam (trong Sách giáo khoa Ngữ văn THPT) dưới góc
độ ngôn ngữ học tri nhận, bài viết nghiên cứu, giải hình ẩn dụ cấu trúc “THIÊN NHIÊN
CON NGƯỜI”, nhận thức giải các phạm trù của thế giới qua ý niệm ẩn dụ được thể
hiện trong ngôn ngữ, từ đó giải các tín hiệu ngôn ngữ cũng như thế giới tinh thần của các
nhà thơ..
Từ khóa: Ẩn dụ ý niệm, ánh xạ, thiên nhiên, con người.
1. MỞ ĐẦU
Mt trong những ng nghiên cu ni
bt ca ngôn ng hc tri nhn là vic nghiên
cu v n d ý nim. T trước đến nay, các
nhà ngôn ng hc truyn thng vn nhìn
nhn n d ch như mt phép chuyn
nghĩa (master trope), một bin pháp tu t
(rhetoric) hay mt hin ng ngôn ng đơn
thun (a purely linguistic device) [4]. Quan
đim y tn ti rt nhiều năm bởi vic tha
nhn ngôn ng đc lp vi ý thức và tư duy.
Sau này, khi khoa hc tri nhn phát trin, c
nhà ngôn ng hc tri nhn khẳng đnh n d
không phi mt hiện tượng ngôn ng đơn
thun mt h thng ý nim, mt q
trình gm các nguyên tc tri nhn giúp hình
thành tri thc, chi phi điu khin cách
con người duy và lĩnh hi thế gii. n d
ý nim vai tquan trng trong ngôn ng
nói chung trong thơ ca nói riêng. đem
đến cho thơ ca s mi m, sáng to trong
cách cm nhn thế gii m ra cho con
người nhng kh năng tìm tòi, khám pv
các mi liên h gia c s vt, hiện ng
vi nhau và mi liên h gia các s vt hin
ng ca thc tế khách quan vi chính bn
thân con ngưi. Mt khác, nh n d ý nim,
con người hiểu rõ hơn, nm bắt hơn v
quá trình tư duy, khám phá thế gii du
ấn văn hoá ca dân tc nh phn chiếu qua
ngôn ng.
2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
2.1. Ẩn dụ ý niệm và cơ chế ánh xạ giữa hai
miền không gian Nguồn - Đích
Ngôn ngữ học tri nhận coi ẩn dụ công
cụ quan trọng để ý niệm hoá. Ẩn dụ ý niệm
một trong những hình thức duy ý niệm,
phản ánh sự nhận thức và ý niệm hoá của con
người về thế giới quanh mình qua các biểu
thức các diễn đạt ngôn ngữ, bằng cách lấy
con người làm bản thể định vị giữa không
gian, thời gian, các nguyên tắc, sự kiện,
hành động, tưởng, tôn giáo, niềm tin…của
con người tương tác mật thiết với nhau trong
không gian - thời gian ấy. Ẩn dụ ý niệm dựa
trên kinh nghiệm của con người đối với thế
giới, trong đó một miền (thông thường
miền cụ thể) được áp dụng để hiểu một miền
khác (thông thường miền trừu tượng hơn),
miền thứ nhất được gọi miền Nguồn
(source domain) miền thứ hai gọi miền
Đích (target domain). Tư duy ẩn dụ được hiểu
thông qua đồ ánh xạ, một hệ thống cố
định của các điểm tương ứng giữa các yếu tố
hợp thành miền Nguồn và miền Đích. Khi các
điểm tương ứng được kích hoạt trong ý thức
của con người, các đánh xphóng chiếu
từ miền Nguồn sang miền Đích dựa trên
những điểm tương ứng. Những tri thức
miền nguồn ánh xạ lên miền đích theo quan
hệ gán ghép. Cả hai miền nguồn đích đều
những ý niệm, được cấu trúc hoá theo
hình trường - chức năng: trung tâm - ngoại vi,
trong đó hạt nhân khái niệm nằm trung
tâm, mang nh phổ quát toàn nhân loại,
65
ngoại vi những yếu tngôn ngữ, văn hoá
dân tộc, nằm trong một “khung” hay “nền”
văn hoá nhất định mang tính đặc thù [1].
2.2. Ẩn dụ ấu trúc
Theo LakoffJohnson, n d ý nim
3 loi chính: n d cu trúc (Structural
metaphors), n d định hướng (Orientational
metaphors) n d bn th (Ontological
metaphors). Cũng theo Lakoff Johnson
(1980), n d cu trúc chiếm s ng ch
yếu ca n d ý nim. n d cấu trúc đặc
điểm min Ngun cung cp mt cu trúc tri
thức tương đối phong phú cho miền Đích.
Chức năng tri nhận ca nhng n d này
cho phép chúng ta hiu miền đích A nhờ vào
cu trúc ca min ngun B. S hiu biết này
din ra thông qua các ánh x ý nim gia
nhng yếu t ca A B. Hu hết n d cu
trúc cung cp loi cu trúc hiu biết v
min ý niệm Đích của chúng qua nhng tri
nghim của con người nói chung min
Ngun c th hơn, dễ hiểu hơn, miền Đích
thường tru tuợng, khái quát hơn [5].
2.3. Ngữ liệu khảo sát trong Sách giáo khoa
Ngữ văn THPT
Ngữ liệu được chúng tôi khảo sát 20
tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam (tính từ
1900) được đưa vào giảng dạy trong chương
trình Ngữ văn THPT (bao gồm các tác phẩm
học chính khóa đọc thêm). Các tác phẩm
chủ yếu được giảng dạy bắt đầu từ 2 lớp
11. Các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý
niệm (thuộc ẩn dụ cấu trúc) trong thơ khá
phong phú. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của
bài viết, chúng tôi chỉ lựa chọn một hình
ẩn dụ cấu trúc THIÊN NHIÊN LÀ CON
NGƯỜI để phân tích làm các đặc trưng
cũng như hình thái duy của các tác giả. S
lượng các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ y
được chúng tôi khảo sát là 32.
3. ẨN DỤ Ý NIỆM THIÊN NHIÊN
CON NGƢỜI
3.1. hình chiếu xạ giữa miền Nguồn đến
miền Đích của ý niệm THIÊN NHIÊN
CON NGƯỜI
Sự chiếu xạ ẩn dụ liên quan chặt chẽ đến
kinh nghiệm hàng ngày, do đó những đặc
điểm miền Nguồn chiếu x đến miền Đích
thường những đặc điểm nổi trội. Để phân
tích những thuộc tính được chọn lọc cho miền
nguồn được chiếu xạ lên miền đích, chúng tôi
phân tích hai miền ý niệm CON NGƯỜI
THIÊN NHIÊN. Miền nguồn CON NGƯỜI
chiếu xạ lên miền đích THIÊN NHIÊN.
Đặc tính của con người được gán cho thiên
nhiên theo hình trung tâm ngoại vi.
Những ý niệm này nguồn gốc trong chiều
sâu tưởng triết học. Triết học ghi nhận
quan niệm “thiên nhân hợp nhất”. Người
phương Đông coi con người tiểu trụ
trong hệ thống lớn, trời đất với ta cùng sinh,
vạn vật với ta một. Như vậy con người
cũng chứa đựng tất cả những tính chất, những
điều huyền của trụ, của thiên nhiên bao
la rộng lớn.
Trong bc tranh ngôn ng chung ca
người Vit, vic tri nhn v con người thông
qua thiên nhiên din ra rt ph biến. Theo
chiều ngược lại, để tri nhn v thiên nhiên,
con người cũng thể vn dng nhng tri
thc, nhng hiu biết v chính bn thân mình.
Lấy đặc điểm ngoi nh, phm cht, tính
cách, duy con người để phóng chiếu sang
các s vt, hiện tượng t nhiên giúp con
người nhn thc hiu nhanh nht v t
nhiên.
Thiên nhiên là một phạm trù rộng lớn bao
trùm lên gần như toàn bộ sự vật, hiện tượng
tự nhiên trong thực tế khách quan, trong đó có
con người. Tuy nhiên, trong cấu trúc tri nhận
của con người, con người tự tách mình ra với
cách chủ thể nhận thức thiên nhiên
là khách thể/ hay đối thể nên phạm trù thiên
nhiên không bao hàm “thành viên” con người
trong đó.
Phạm trù thiên nhiên, như một phạm trù
tri nhận, được thể hiện trong tác phẩm văn
học lại càng biểu lộ tính chất chủ thể
khách thể y. Theo những cách thức sáng tạo
riêng, nhà văn đã hoá các ý niệm của
mình về phạm trù thiên nhiên để qua đó cho
người đọc thấy được hình tri nhận riêng
phản ánh nhãn quan của nhân về thế giới
và con người sống trong thế giới ấy.
Trong các tác phẩm thơ hiện đại Việt
Nam, ý niệm thuộc miền Đích thiên
nhiên tồn tại như một phạm trù bậc khái
quát (bậc thượng danh) bao hàm trong đó
nhiều phạm trù sở thấp hơn nữa là các
phạm trù thuộc bậc hạ danh. Có thể hình dung
66
quan hệ cấp bậc tính hệ thống này của
phạm trù Thiên nhiên trong thơ hiện đại Việt
Nam qua bảng sau:
Bảng 1. Phạm trù Thiên nhiên trong thơ hiện đại Việt Nam
Phạm trù khái quát
(thƣợng danh)
Phạm trù cơ sở
Phạm trù hạ danh
Thiên nhiên
Thời gian
Năm, tháng, mùa, ngày, đêm, giờ,
canh,…
Không gian
Vùng, miền, nông thôn, thành phố…
Cây cối
Hoa, cỏ, cây, …
Sông nước
Sông, bể, suối, dòng…
Thời tiết
Nắng, mưa, gió, sương, tuyết,…
Vũ trụ
Trăng, trời, mây, sao…
Tương tự như ý niệm thuộc miền Đích
Thiên nhiên, miền Nguồn Con người cũng
một phạm trù bậc khái quát (bậc thượng
danh) và bao hàm trong đó nhiều phạm trù cơ
sở. Phạm trù Con người mang tính cấp bậc
thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2. Phạm trù Con người trong thơ hiện đại Việt Nam
Phạm trù sở
Phạm trù hạ danh
Ngoại hình
Xấu, đẹp, cao, thấp, …
Bộ phận cơ thể
Tóc, tay, chân, mắt, tim, óc…
Hoạt động, trạng thái
Nhớ, ngủ, thức, mong, chiến đấu…
Tuổi tác
Trẻ, già, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng…
Phẩm chất, tính cách
Hiền, dữ, ….
Kho sát 32 biu thc ngôn ng cha n
d thu được t ngun ng liệu đã xác định,
thông qua vic chn lc phân b các thuc
tính cho hai hình tri nhn min Ngun
miền Đích, chúng tôi thiết lp nên ánh x
n d THIÊN NHIÊN CON NGƯỜI như
sau: a. S vt, hiện ng t nhiên con
người nói chung
b. Hoạt động, trng thái ca thiên nhiên
là hoạt động, trng thái của con người
c. Thuc tính ca thiên nhiên phm
cht, tính cách của con người
3.2. Phân tích mt s n d cu trúc
THIÊN NHIÊN CON NGƢI trong
thơ hiện đại Vit Nam
3 hình ánh x n d S VT,
HIỆN TƯỢNG T NHIÊN CON
NGƯI NÓI CHUNG; HOẠT ĐỘNG
TRNG THÁI CA THIÊN NHIÊN LÀ
HOẠT ĐỘNG, TRNG THÁI CA CON
NGƯI; THUC TÍNH CA THIÊN
NHIÊN PHM CHT, TÍNH CÁCH
CỦA CON NGƯỜI (xem 3.1) cho phép
chúng ta nhn thc v các s vt, hiện tượng
t nhiên (cây c, núi rừng, mưa, gió, trăng,
ngày, đêm,…. ) thông qua các tri thc v con
người. Nói ch khác, các nhà thơ tri nhn v
các s vt hiện tượng t nhiên như những con
người c th.
Trước hết phi k đến các s vt cây
ci, thc vt. T khi thuỷ, người Việt đã
sinh sng ch yếu da vào ngh trng trt,
hái lượm, biết tn dng các sn vt ca t
nhiên làm cái ăn, tận dụng “sức mạnh” của t
nhiên để bo v cho cuc sng ca nh...
Trải qua hàng trăm năm sinh sống bng ngh
nông, người Vit tích lu được nhiu kinh
nghim v mùa màng, cây ci, hiu biết sâu
sc v các loại cây cũng như đặc tính sinh
trưởng, li ích... ca chúng. Trong tâm thc
của người Vit, cây c/thc vt không ch
ci nguồn nuôi dưỡng s sng còn bu
bn gn bó, mt sinh th đặc biệt cũng
linh hn, cm xúc, cm giác. Vy nên
người dân Việt bao đời nay ưa chung lì
67
sng hoà mình vào thiên nhiên, giàu nh yêu
c y hoa lá, núi rng, thích cm nhn cuc
sng ca mình trong s sng tun hoàn ca c
cây, hoa rng núi Bên cạnh đó, với s
ảnh hưởng ca quan niệm “thiên nhân hợp
nhất”, “vạn vt hữu linh” của duy phương
Đông, nhiều nơi, cây cối, núi rừng đã trở
thành biểu tượng tâm linh, linh vt th
cúng của con người. Chng hạn như người
Kinh th cây đa, cây gạo các đình chùa,
miếu mạo, người Dao th cây đa, y sấu,
người Chàm có tc th da, th cau…
nhng ngn núi, rng cây nhiều nơi trở
thành “vật thiêng” được tôn thờ. Như vậy, coi
c y/hoa lá/núi rừng… cũng giống như con
người không phi là kiểu tư duy hiếm gp ca
người Việt. Điều y cũng được th hin
bng các biu thc ngôn ng cha n d
trong các tác phẩm thơ hiện đại. Chng hn,
trong bài Vit Bc (T Hu), núi rng vi c
cây hoa chiến khu Vit Bắc đã trở thành
những người bn tâm giao của người cán b
min xuôi trong những năm kháng chiến gian
khổ, để đến lúc chia tay thì ngậm ngùi, lưu
luyến như chia tay những con người bng
xương bằng tht:
(1) Mình v, rng núi nh ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình v có nh núi non
Nh khi kháng Nht, thu còn Vit Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hng Thái, mái đình cây đa?
(Vit Bc T Hu)
Trong kháng chiến, c cây/hoa lá/núi
rừng đều th tr thành “thn h vệ” cho
các chiến sĩ:
(2) Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
(Vit Bc T Hu)
C rừng cây, núi đá đều cùng các chiến
cách mạng đánh giặc, núi thì giăng thành
lũy sắt dày, rng thì che cho b đội n mình
để chng gic. C quân dân cùng thiên
nhiên núi rừng như hòa vào với nhau, to nên
mt khi sc mnh cùng vững chãi, đồng
lòng đánh quân xâm c. Thiên nhiên núi
rng Tây Bc không h tri giác
cùng sống động, th hin s gắn bó, đoàn kết
cùng con người Vit Bc bo v các chiến
cách mng, góp phn không nh vào s
nghip giải phóng đất nước. Chúng ta cũng
bt gp nhng hình nh thiên nhiên y trong
bài thơ “Tiếng hát con tàu” ca Chế Lan
Viên:
(3) Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
X thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
(Tiếng hát con tàu Chế Lan Viên)
Một bài thơ khác của Tố Hữu cũng được
đưa vào chương trình Ngữ văn THPT (thuộc
các tác phẩm đọc thêm) bài thơ Nhớ đồng.
Nh đồng ni nh toàn b cuc sng bên
ngoài gi đây đã trở nên cách biệt đối vi
người chiến bị đày. Sau khoảnh khắc
cảm nhận “gì sâu bằng những trưa thương
nhớ” như một cách cắt nghĩa lòng mình, ùa về
trên những dòng thơ của Nhớ đồng bao
hình ảnh ngồn ngộn sức sống của đồng quê
quen thuộc, khi đó, những cồn đất, ruồng
tre…dường như cũng đã trở thành những con
người gắn bó máu thịt với nhà thơ:
(4) Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi
Đâu ruồng tre mát thở yên vui
Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn
Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?
(Nhớ đồng Tố Hữu)
Trong phạm trù “thiên nhiên”, phạm
trù sở “vũ trụ” với nhng tri, mây,
trăng, sao,…tiêu biu. Trong s nhng yếu t
thuộc trụ đó, lẽ “Trăng” đối tượng
được đề cp nhiu nhất trong thơ ca.
Trong thơ ca, trăng đối tượng được
nhiều thi nhân mọi thế hệ, mọi thời đại lấy
làm biểu tượng nghệ thuật miêu tả dưới
nhiều bình diện khác nhau. mỗi nhà thơ,
trăng mang một vẻ đẹp, một nỗi niềm riêng.
Trăng trong thơ Xuân Diệu đem lại cảm giác
bâng khuâng nhẹ nhàng cho người đọc. Trăng
trong thơ Hàn Mặc Tcả một thế giới đầy
ẩn, dị thường. Lấy Trăng làm ý niệm trong
miền Đích, các nhà thơ cho chúng ta mt lot
các n d ý nim v trăng, tiêu biểu là:
TRĂNG CON NGƯỜI, TRNG THÁI
CỦA TRĂNG LÀ TRẠNG THÁI CA CON
NGƯI…
Trăng được nhìn, hiu cm nhận như
một con người c th với đầy đủ các thuc
tính của con người: t hình dáng b ngoài đến
ni tâm bên trong, hoạt động, trng thái, cm
xúc, tính chất, đặc điểm…
Trong thơ văn, trăng vốn một biểu
tượng đa nghĩa. Xuất phát từ những đặc nh
tự nhiên, thiên thban đêm, trăng thường
gợi nên hình ảnh của cái đẹp, của ánh sáng
68
trong khoảng không mênh mông tăm tối.
Trăng vừa biểu tượng của cái đó siêu
thoát bên ngoài mà con người không thể vươn
tới, lại vừa như những con người thực bình
dân , giản dị. Tản Đà từng coi trăng như tri kỉ,
một người bạn sẵn sàng cùng chơi với mình :
(5) Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
(Hầu trời – Tản Đà)
Trăng trong thơ Hàn Mc T cũng vy,
cũng được xut hiện i nhiều góc độ: lúc
hin nhiên trn tri, lúc li chìm n nhng
góc khut ca tâm hn. Hàn Mc T xem
ánh trăng trong thơ như một con người vi tt
c những đặc tính con người. Trăng
dáng v, cảm xúc, hành đng chng
khác gì con người. thể nói Trăng trong thơ
Hàn Mặc Tử một thực thể linh hồn, một
con người thực sự. Hàn Mạc Tử nghe được
hơi thở, bước đi, sự chuyển dịch, thậm chí cả
suy nghĩ của trăng :
(6) Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mạc Tử)
Trăng như nhân vật chứng kiến mọi
biến động của hội, đồng thời còn nơi để
cho con người thổ lộ mọi tâm trạng, mọi nỗi
niềm. Trong Đàn Ghi ta của Lorca (Thanh
Thảo), Trăng trở thành “người say”, - người
thấu hiểu nỗi buồn vui - đau đớn trong lòng
thi nhân và cả những tâm tư tình cảm của ông:
(7) Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
Lila li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
(Đàn Ghi ta của Lorca -Thanh Thảo)
Mt hình nh thiên nhiên na xut hin
trong thơ của mt n thi sĩ, trở thành mt
“biểu tượng” về tình yêu đôi lứa say đm,
thiết tha. Đó Sóng ca Xuân Qunh. Sóng
là hình nh n d ca tâm trạng người con gái
đang yêu, là sự hoá thân, phân thân ca cái tôi
tr tình - mt kiểu đặc bit ca cái tôi tr tình
nhp vai. Hai nhân vt tr tình y (sóng
em) tuy hai mt, lúc phân đôi ra để
soi chiếu vào nhau, làm ni bt s tương
đồng, có lúc li hoà nhập vào nhau để to nên
s âm vang, cộng hưởng. Hai hình ng y
đan cài quấn quýt với nhau như hình với
bóng, song song tn ti t đầu đến cui bài
thơ, soi sáng, b sung cho nhau nhm din t
mt cách mãnh liệt hơn, sâu sc thm thía
hơn khát vọng tình u đang cuồn cun trào
dâng trong trái tim n thi sĩ. “Con sóng” khi
y tr thành những “con người” với nhng
nh thương khi “dữ dội”, lúc lại “dịu êm”
thường nht:
(8) Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nh b
Ngày đêm không ngủ được
(Sóng Xuân Qunh)
Thi gian cũng mt phạm trù sở
thuc phm trù thiên nhiên xut hin vi tn
sut khá lớn trong thơ ca, đc biệt trong thơ
ca hiện đại. Thi gian mt phm trù triết
học. Con người vn vt không th tn ti
ngoài quy lut ca thi gian. Bi vy, nhìn s
vt, s việc qua lăng kính thi gian chính
một cách để cm th thế giới con người.
Trong thơ hiện đại Việt Nam, các nhà thơ đề
cập đến vấn đề thi gian nhiu khía cnh
khác nhau, nhưng hầu như, tất c đều hướng
ti mi quan h gn gia thi gian con
người.
Mục đích quan trọng bc nht ca n d
ý niệm đưa nhng ý nim trừu tượng tr
nên xác định và thông dng thông qua nhng
t ng vẫn thường được dùng cho nhng ý
nim c th. Ý nim c th thường thy nht
chính Con người. Phn ln nhng n d ý
nim v thi gian min Ngun Con
người, đây cũng chính s hình thành
n d ph quát: THI GIAN CON
NGƯI. Thông qua nhng đặc trưng của con
người để nhìn nhn hiu v thi gian
loi n d ý nim không còn mi m, song
với cách duy của các nhà thơ hiện đại,
lại đem đến nhng cm nhn khác bit.
Nhng thuc tính của con người (t đặc điểm
tính cách đến b phận thể…) được phóng
chiếu sang phm trù thi gian, làm cho thi
gian được hiểu, được cm nhận như những
con người thc hin hu, sống động:
(9) Tng Giêng ngon như mt cp môi gn
Xuân còn non, nga là xuân s già
(Vi vàng Xuân Diu)
(10) Sut my hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mt, trời tuôn mưa
(Bác ơi – T Hu)
(11) Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
(Sóng Xuân Qunh)
Hạt nhân tưởng ca ngôn ng hc tri