
, 315
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ NÂNG CAO VỐN CON NGƯỜI ĐẾN
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI
CẢNH CÔNG NGHIỆP 4.0
ThS. Đàm Đình Mạnh1, ThS. Phạm Thị Thanh Cầm2
(1),(2)Trường Đại học Quy Nhơn
Tóm tắt:
Hiện nay, ở Việt Nam, năng suất lao động (NSLĐ) là một chủ đề nóng được quan tâm
không chỉ bởi các nhà nghiên cứu mà còn của các cấp quản lý. Trong rất nhiều nghiên cứu ,
năng suất của người lao động ở cả cấp độ doanh nghiệp và toàn xã hội là một chỉ tiêu dùng
để đánh giá hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất. Bài viết này nhằm mục đích xem xét tác
động của đầu tư vào vốn con người (VCN) nhằm nâng cao năng suất lao động ở các doanh
nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn thế giới đang tiến vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Để định lượng mối quan hệ giữa VCN và NSLĐ, tác giả sử dụng bộ số liệu điều tra doanh
nghiệp vừa và nhỏ SME 2011 và 2013 để khai thác mô hình hồi quy dữ liệu bảng. Kết quả
cho thấy việc đầu tư cho đào tạo người lao động thực sự ảnh hưởng tới năng suất lao động
của doanh nghiệp và càng đầu tư thì năng suất càng cao.
Từ khoá: năng suất lao động, vốn con người, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hồi quy dữ
liệu bảng
1. Đặt vấn đề
Thuật ngữ năng suất được đưa ra lần đầu tiên bởi nhà kinh tế học Adam Smith trong
bài viết nói về ảnh hưởng của lao động và khả năng sản xuất của lao động tới hiệu quả sản
xuất. Từ đó có rất nhiều các công trình khoa học tìm cách làm rõ khái niệm, đưa vào các khái
niệm mang tính chiều sâu hơn vào năng suất như: năng suất nhân tố tổng hợp, năng suất vốn
… hoặc xem xét các yếu tố tác động đến năng suất hoặc xem xét vai trò của nó đối với
doanh nghiệp ở cấp độ vi mô, đối với các địa phương, quốc gia ở cấp độ vĩ mô.
Với Việt Nam, trong những năm qua, chúng ta đã có những tiến bộ trong việc cải
thiện NSLĐ tuy nhiên, giữa chúng ta so với các nước trong khu vực, chưa kể đến các quốc
gia phát triển, vẫn là một khoảng cách khá xa về năng suất. Điều này làm cho khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nước ta so với thế giới gặp nhiều khó khăn
và trở ngại. Trong thời gian tới, nếu chúng ta không có những giải pháp để nâng cao thực sự
NSLĐ, sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Vậy NSLĐ thực sự là gì và có những yếu tố nào tác động tới nó?
Hiểu theo nghĩa thông thường, đó là chỉ tiêu về hiệu quả hữu ích của hoạt động có
mục đích của con người trong quá trình sản xuất. Nó được xác định bằng số lượng sản phẩm
sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra
một đơn vị sản phẩm.
Đây là một biến số kinh tế - xã hội được tiếp cận dưới rất nhiều góc nhìn khác nhau,
từ kinh tế học, quản trị học cho tới xã hội học. Có nhiều yếu tố tác động tới năng suất tuy
nhiên có thể tóm tắt một vài điểm đáng chú ý như sau:
- Yếu tố gắn liền với sự phát triển và sử dụng tư liệu sản xuất bao gồm : Khoa học, kỹ
thuật, công nghệ sản xuất, năng lượng, nguyên vật liệu, cơ sở hạ tầng ..
- Yếu tố gắn liền với bản thân người lao động như: trình độ văn hoá, trình độ chuyên
môn, tay nghề, tình trạng sức khoẻ, thái độ lao động, kỷ luật lao động, tinh thần trách
nhiệm, sự gắn bó với doanh nghiệp, sự hài lòng của họ đối với môi trường làm việc,
kỹ năng, năng lực của đội ngũ lao động …

, 316
- Các yếu tố gắn với tổ chức lao động bao gồm: phân công lao động, tiền lương, tiền
thưởng, chế độ phúc lợi xã hội, thái độ của người lãnh đạo, bầu không khí của tập thể
…
- Các yếu tố gắn với môi trường làm việc như môi trường tự nhiên khí hậu thời tiết
hoặc điều kiện ở nơi hoạt động sản xuất kinh doanh …
Có thể thấy, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và chi tiết thì rất nhiều yếu tố có thể khai
thác nhằm cải thiện đáng kể NSLĐ. Mỗi một nghiên cứu trong từng lĩnh vực kinh tế xã hội
lại hướng đến một yếu tố khác nhau, đánh giá vai trò, ảnh hưởng của nó đến năng suất và vốn
con người (VCN) cũng nằm trong số đó. Nghiên cứu về VCN và vai trò của giáo dục cũng đã
được nhà kinh tế học Adam Smith đưa đầu tiên với phát biểu cho rằng để chống lại sự phân
công lao động liên tục thì một trong những cách thức tốt là giáo dục con người. Người coi
giáo dục là vốn đầu tư quốc gia và ủng hộ nó nhằm cải tiến kỹ thuật là Alfred Marshall. Tuy
vậy, lý thuyết VCN được đưa ra đầu tiên là bởi Schhult (1961). Ông chính là người khởi
xướng cho nghiên cứu mối quan hệ giữa VCN và tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của ông
chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế chỉ có khi vốn vật chất và VCN cùng gia tăng.
Sau đó, lý thuyết VCN và vai trò của nó đối với nền kinh tế được nghiên cứu một
cách sâu rộng nhưng có cùng những quan điếm như sau: nếu sự chênh lệch thu nhập phản ánh
chênh lệch NSLĐ thì những người có trình độ giáo dục cao sẽ có năng suất kinh tế tổng hợp
càng lớn (Liu & cộng sự, 1993).
Như vậy VCN tác động trực tiếp tới NSLĐ và tác động theo chiều hướng tích cực.
VCN trong bản thân mỗi chúng ta sẽ làm tăng năng suất cá nhân dấn đến tăng năng suất
chung và tăng trưởng kinh tế (Lucas, 1988). Trên thế giới có rất nhiều bài báo, sách, các bản
tham luận đề cập đến vốn con người, các thước do về VCN và vai trò của nó đối với NSLĐ
trong doanh nghiệp. Sự đa dạng và phong phú của các nghiên cứu này thể hiện ở cả thước đo
VCN (chi phí đào tạo, lương của người lao động, số năm đi học …) hoặc về phương pháp
(hồi quy dữ liệu chéo, hồi quy dữ liệu mảng, các phương pháp thống kê thông thường …).
Phạm vi nghiên cứu cũng rất đa dạng và phong phú với cả số liệu cấp quốc gia, cấp tỉnh
thành phố và cấp độ doanh nghiệp (theo khu vực, theo ngành …). Cho đến nay, các nghiên
cứu này vẫn chưa dừng lại khi mà có nhiều phương pháp đánh giá mới và bối cảnh kinh tế xã
hội mới liên tục được cập nhật.
Ở Việt Nam, các bài viết về tác động của VCN đến NSLĐ cũng nhận được sự quan
tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu. Các nghiên cứu này chia làm hai hướng rõ rệt. Đa phần
các đề tài hướng đến khai thác vai trò của VCN đến tăng trưởng ở cấp quốc gia. Một trong số
những nghiên cứu đó là của Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008) xác định ảnh hưởng
của VCN đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu này đã thực hiện đo lường các thước đo liên
quan đến VCN như: số năm đi học bình quân, chi phí cho giáo dục bình quân và số lao động
hiệu quả bình quân của các tỉnh thành phố Việt Nam giai đoạn 2000 – 2004. Nghiên cứu
khẳng định VCN được đo bằng hai thước đo đầu tiên thực sự có ảnh hưởng tích cực tới tăng
trưởng kinh tế, còn với thước đo thứ 3 thì ảnh hưởng này chưa có ý nghĩa thống kê. Một
hướng khác xem xét tác động của VCN đến NSLĐ nhưng dưới góc độ doanh nghiệp như
Nguyễn Khánh Duy & cộng sự (2013). Nghiên cứu này đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
đầu tư cho VCN và tác động của việc đầu tư vào VCN vào tăng NSLĐ của doanh nghiệp đối
với các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Hoặc như nghiên cứu của
Nguyen, Ngo và Buyens (2008) điều tra 196 công ty đã chỉ ra rằng các công ty có sự đầu tư
vào VCN thông qua hoạt động đào tạo đều có sự gia tăng về doanh thu và NSLĐ. Tuy vậy
phương pháp nghiên cứu và nhất là thước đo về VCN được sử dụng trong các nghiên cứu này
còn nhiều hạn chế, chẳng hạn như phương pháp PSM (điểm xu hướng) trong nghiên cứu của
Nguyễn Khánh Duy & cộng sự, hay như hồi quy dữ liệu chéo trong nghiên cứu của Nguyen,
Ngo và Buyens (2008) …

, 317
Như vậy có thể thấy, những bài viết khai thác ảnh hưởng trực tiếp của VCN đến NSLĐ
của xã hội nói chung còn chưa thực sự đầy đủ và hoàn thiện, nhất là trong bối cảnh hiện nay,
chúng ta đang tiếp cận với cách mạng công nghiệp 4.0 và sự đầu tư cho giáo dục, cho VCN
đang ngày càng được xã hội quan tâm.
Bài viết của chúng tôi nhằm mục đích xem xét đánh giá tác động của yếu tố VCN đến
NSLĐ một cách toàn diện hơn, với nhiều biến kiểm soát đi kèm nhằm phân tách những kết
quả phù hợp với tình hình thực tế hiện nay hơn.
2. Tổng quan lý thuyết
2.1 Các dạng mô hình phân tích
Mặc dù nghiên cứu với nhiều hướng, nhiều cách tiếp cận khác nhau, song có một thực
tế là hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas và các dạng mở rộng của nó vẫn được sử dụng khá
nhiều trong nghiên cứu tác động của VCN đến tăng trưởng kinh tế và NSLĐ. Với mỗi một
doanh nghiệp hoặc một quốc gia hàm sản xuất có dạng:
Y AK L
với Y là sản lượng, K là vốn và L là lao động (A chính là năng suất nhân tố tổng hợp).
Và nếu xét đến NSLĐ thì ta chia cả hai vế của hai cho L (với L là số lao động hoặc số
lao động bình quân. Và ta cũng có thể hiểu Y là giá trị gia tăng hoặc doanh thu thuần, doanh
thu, GDP ...
Có thể phân ra 3 cách tiếp cận mô hình đối với việc phân tích các yếu tố tác động tới
NSLĐ của doanh nghiệp:
Cách tiếp cận dựa vào phân tách lao động
Lực lượng lao động trong doanh nghiệp có thể phân tách thành nhiều bộ phận, các
nhà nghiên cứu dựa vào những yếu tố cụ thể đã mô tả như sau:
- Lao động
UT T
L L L
với
UT
L
là số lao động chưa được doanh nghiệp đào tạo và
T
L
là lượng lao động được doanh nghiệp đào tạo (theo chương trình đào tạo của bản
thân doanh nghiệp) và
là tham số đặc trưng cho NSLĐ của người được doanh
nghiệp đào tạo. Hệ số này sẽ lớn hơn 1 nếu NSLĐ của họ thực sự lớn hơn của người
không được doanh nghiệp đào tạo
- Hoặc lao động
U T
L N N
với
U
N
là số lao động không được cung cấp phúc lợi
và
T
N
là lượng lao động được cung cấp phúc lợi và
là tham số đặc trưng cho
NSLĐ của người được cung cấp phúc lợi. Hệ số này sẽ lớn hơn 1 nếu NSLĐ của họ
thực sự lớn hơn của người không được cung cấp phúc lợi
Với cách phân tích như vậy thì hàm sản xuất được viết lại là:
( )
U T
Y AK N N
=
[1 ( 1) ]
T
N
Y AK L
L
Trong đó tỉ số
/
T
N L
là tỷ lệ người lao động được cung cấp phúc lợi (hoặc có thể là
tỷ lệ người lao động được doanh nghiệp đào tạo). Với giả thiết lợi thế theo quy mô
(
1
) ta có thể viết lại hàm sản xuất thể hiện NSLĐ như sau:
[1 ( 1) ]
T
Y K N
A
L L L
Lấy logarit và xấp xỉ 1 cho hai vế của (4) ta có:
log log log ( 1)
T
Y K N
A
L L L
Từ đó ta có thể ước lượng (5) bằng các mô hình kinh tế lượng như hồi quy dữ liệu
chéo, hồi quy dữ liệu bảng, phân tích điểm xu hướng PSM để có thể cho ra các kết quả phục
vụ nghiên cứu.

, 318
Cách tiếp cận dựa hàm sản xuất Cobb-Douglass mở rộng
Bổ sung VCN trực tiếp từ dạng hàm
Cách tiếp cận thứ hai là bổ sung thêm vào hàm Cobb-Douglass với giả thiết hiệu quả
không đổi theo quy mô. Ví dụ từ (1) ta bổ sung như sau:
(1 )
Y AK H W L
Với các yếu tố bổ sung như vốn con người, tiền lương, thưởng .... một lưu ý là khi bổ
sung thêm bao nhiêu yếu tố thì số mũ của lao động. Khi chia cả hai vế cho L thì ta có:
Y K H W
A
L L L L
Lấy logarit cơ số e hai vế ta có:
ln ln ln ln
Y K H W
A
L L L L
Với cách làm này, ta có thể bổ sung thêm rất nhiều yếu tố để đưa vào khung phân tích.
Bổ sung trực tiếp từ sai số ngẫu nhiên
Đây là cách tiếp cận được khá nhiều hướng nghiên cứu liên quan đến đánh giá tác
động của yếu tố đến tăng trưởng hoặc NSLĐ áp dụng. Ví dụ:
Z U
Y AK HC L e
Với HC là vốn con người; Z là một tập hợp các biến có ảnh hưởng tới sản lượng và
phù hợp với bối cảnh nghiên cứu.
Cũng với giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô và 1
thì:
Z U
Y K HC
A e
L L L
Lấy logarit cơ số e hai vế ta có:
ln ln ln
Y K HC
A Z U
L L L
Từ các hàm này, kết hợp với các phương pháp thống kê khác các nhà nghiên cứu đã
có nhiều bài viết về mối quan hệ giữa VCN và NSLĐ.
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý tới vai trò và tác động của VCN tới
NSLĐ của doanh nghiệp. Các nghiên cứu này sử dụng nhiều thước đo về VCN và sự đầu tư
về VCN trong doanh nghiệp để phân tích tác động của nó lên NSLĐ của doanh nghiệp. Xét
về biến số sử dụng để đại diện cho VCN trong doanh nghiệp có thể kể ra một vài nghiên cứu
điển hình như sau:
Valadkhani (2003) đánh giá tác động của các biến kinh tế trong đó có VCN đến
NSLĐ. Nghiên cứu này sử dụng số liệu chuỗi thời gian từ năm 1970 đến 2001 và dùng
phương pháp tự hồi quy vectơ VAR để xác định tác động dài hạn và ngắn hạn của các biến số
tới NSLĐ của Australia. Kết luận của tác giả là trong ngắn hạn, VCN và sự cải tổ lao động
chưa thực sự tác động đến NSLĐ mà nguyên nhân có thể là do các chuỗi số liệu chưa đủ dài.
Ching-FuChanga & cộng sự (2015) lại tiếp cận cụ thể các nhà máy trong lĩnh vực
công nghiệp, dựa vào mô hình tăng trưởng của Lucas (1988) và phương pháp hồi quy dữ liệu
bảng (có tiếp cận vấn đề nội sinh trong mô hình). Kết quả cũng cho biết có sự tác động tích
cực từ VCN lên NSLĐ. Để mang lại kết quả tốt hơn, các tác giả đã xác định VCN trong
doanh nghiệp bao gồm người lao động có trình độ học vấn thấp, trung bình và cao. Đồng thời
số lượng lao động có trình độ đại học trong cùng thành phố cũng được đưa vào mô hình để
tính toán sự lan toả tri thức. Hơn nữa điểm đáng chú ý trong nghiên cứu này là các tác giả có
bóc tách riêng biệt mối quan hệ này trong ngành công nghiệp công nghệ cao với các ngành
khác. Nghiên cứu thứ ba được kể đến ở đây là của Dearden & cộng sự (2000). Các tác giả
nghiên cứu về sự đào tạo huấn luyện người lao động làm biến đại diện cho sự đầu tư vào vốn

, 319
con người. Sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas với cách phân tách lao động thành
tổng lao động chưa qua đào tạo và đã được đào tạo. Sau đó lấy tỷ lệ lao động được đào tạo
trên toàn bộ lao động trong doanh nghiệp để làm biến đào tạo. Cách tiếp cận này được
Nguyễn Khánh Duy & cộng sự (2008) sử dụng trong nghiên cứu của mình. Hơn nữa, tác giả
đưa các biến kiểm soát phù hợp với nghiên cứu của mình vào như khu vực sản xuất và phi
sản xuất, giới tính, độ tuổi nhằm kiểm tra tác động dưới nhiều góc độ.
Nhiều nghiên cứu khác cũng phân tích ảnh hưởng của hoạt động đào tạo đến năng
suất của người lao động là của Colombo & Stanca (2008) (2014) … Các nghiên cứu này đều
mang lại kết luận chung là hoạt động đào tạo nhằm nâng cao chất lượng lao động mang lại
ảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp. Điều đáng chú ý trong các nghiên cứu này là hoạt
động đào tạo đã xem xét đến thông tin tỷ lệ lao động được đào tạo trong doanh nghiệp, số
ngày bình quân được đào tạo của một lao động chứ không đơn thuần là có – không hoặc chi
phí đào tạo doanh nghiệp bỏ ra. Hơn nữa mẫu nghiên cứu cũng cung cấp thông tin về các loại
hình đào tạo mà doanh nghiệp thực hiện. Một điều đặc biệt nữa là cả hai nghiên cứu sử dụng
NSLĐ của doanh nghiệp dưới dạng giá trị gia tăng bình quân một lao động, một thước đo rất
tốt để nghiên cứu về năng suất. Các tác giả cũng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau,
OLS, FEM, REM, GMM để có cái nhìn đầy đủ nhất về mối quan hệ. Thông qua nghiên cứu
này, các tác giả kết luận rằng VCN tác động lên NSLĐ của doanh nghiệp nhiều hơn là ảnh
hưởng đến tiền lương của họ. Một nghiên cứu khác, sử dụng thước đo thời gian đào tạo bình
quân trên một người lao động (do doanh nghiệp thực hiện) để đại diện cho VCN là của
Konings & Vanormelingen (2010). Nghiên cứu này cũng đánh giá ảnh hưởng của hoạt động
đào tạo tới mức năng suất và lương của họ. Kết luận được đưa ra cũng ủng hộ cho các nghiên
cứu trước, thời gian được đào tạo càng nhiều thì NSLĐ càng cao và mức ảnh hưởng này
nhiều hơn so với mức tăng tiền lương. Ngoài việc sử dụng các thước đo như trình độ
học vấn bình quân của người động, chi phí đào tạo hoặc biến giả có đào tạo hay không làm
yếu tố đại diện cho người lao động thì một vài nghiên cứu sau đây lại sử dụng các đại diện
khác.
Như vậy có thể thấy, nghiên cứu về tác động của VCN tới NSLĐ đã thu hút sự quan
tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu với những kết quả đạt được hỗ trợ cho lý thuyết về VCN và
tăng trưởng kinh tế.
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Cũng như trên thế giới, Việt Nam cũng có không ít các bài viết tập trung vào chủ đề
này, cả trên phương diện toàn nền kinh tế và doanh nghiệp. Trên khía cạnh toàn nền kinh tế,
Trần Thọ Đạt (2007) đã có nghiên cứu sâu rộng về VCN và tác động đối với tăng trưởng kinh
tế của các tỉnh thành. Tác giả đã xây dựng các thước đo về VCN cho Việt Nam và tìm cách
đánh giá tác động của chúng tới tăng trưởng bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng. Sử
dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS nghiên cứu đã có những kết luận đáng
chú ý. Theo tác giả, thước đo VCN phù hợp nhất cho nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam là số
năm đi học bình quân. Mặc dù có tác động tích cực tới tăng trưởng nhưng do có sự khác biệt
về VCN giữa các khu vực địa lý nên những mức độ ảnh hưởng cũng có sự khác nhau. Một
kết luận nữa được suy rộng ra từ nghiên cứu này (được chỉ rõ trong các nghiên cứu tiếp theo
của tác giả & cộng sự) là nếu thay biến tăng trưởng GDP bằng NSLĐ thì kết quả là không
thay đổi. Vào tháng 10 năm 2008, Nguyen Ngoc Thang, Ngo Van Thu và Dirk Buyens đã
thực hiện cuộc nghiên cứu dựa trên cuộc điều tra trên phạm vi 196 công ty ở Việt Nam, thuộc
các lĩnh vực và quy mô khác nhau, và dùng phương pháp hồi quy dữ liệu chéo đã có những
kết luận đáng chú ý. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy các công ty có đào tạo cho người lao
động thì có sự gia tăng đáng kể doanh thu và NSLĐ. Kết quả này đúng với cả doanh nghiệp
sản xuất và phi sản xuất. Tuy nhiên, mức tăng doanh thu và NSLĐ của doanh nghiệp sản xuất
cao hơn doanh nghiệp phi sản suất khi cả hai cùng bỏ chi phí đào tạo lao động. Một hạn chế
của nghiên cứu là sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu chéo, chưa bóc tách được các hiệu

