
S CÔNG TH NG H I PHÒNG Ở ƯƠ Ả
S CÔNG TH NG H I PHÒNG Ở ƯƠ Ả
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH
CƠ KHÍ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG ĐẾN NĂM 2020
H i Phòng, ngày 05/8/2015ả

I. Tổng quan phát triển ngành cơ khí Việt Nam
I. Tổng quan phát triển ngành cơ khí Việt Nam
•Ngành công nghiệp cơ khí (bao gồm 6 phân ngành: SX các sản
phẩm từ kim loại, SX MMTB, SX máy móc và thiết bị điện, SX dụng cụ y
tế, dụng cụ chính xác, SX xe có động cơ và SX phương tiện vận tải) là
một ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp
cơ khí không chỉ cung cấp các sản phẩm tiêu dùng mà quan trọng hơn
là cung cấp thiết bị, máy móc cho nhiều ngành sản xuất khác. Đặc biệt
trong điều kiện hiện nay đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa thì công nghiệp cơ khí càng có vai trò quan trọng hơn bao
giờ hết.
•Để thúc đấy phát triển nhanh ngành Cơ khí, ngày 26/12/2002 của
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg
Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010,
tầm nhìn tới 2020; Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg ngày 16/01/2009, về
cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm;

I. Tổng quan phát triển ngành cơ khí Việt Nam (tiếp)
I. Tổng quan phát triển ngành cơ khí Việt Nam (tiếp)
Sau hơn 10 năm thực hiện, ngành cơ khí Việt Nam đã đạt được những kết quả
quan trọng. Đối với ngành xi măng, cơ khí trong nước đã thiết chế tạo toàn
bộ dây chuyền thiết bị đồng bộ cho nhà máy xi măng công suất đến
800.000 tấn/năm cho Nhà máy xi măng Thái Nguyên, Sông Thao... với tỷ lệ
nội địa hóa đạt từ 70-75% về khối lượng và 40% về giá trị; đã chế tạo được
các trạm trộn bê tông xi măng công suất từ 120 đến 250 m3/giờ; tỷ lệ nội
địa hoá các loại xe gắn máy do trong nước sản xuất đạt khoảng 85 - 95%...
Năm 2014, tổng giá trị SXCN toàn ngành cơ khí VN (bao gồm cả sản xuất
trong nước và nhập khẩu) ước đạt 870.000 tỷ đồng, trong đó, sản xuất
trong nước ước đạt 290.000 tỷ đồng. Giá trị nhập khẩu ngành cơ khí ước
đạt 27,9 tỷ USD, nhập siêu ngành cơ khí tương đối lớn, hơn 12 tỷ USD,
trong đó giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị để phục vụ sản xuất chiếm tỷ lệ
cao nhất (năm 2006 là 6,6 tỷ USD; năm 2014 là 22,46 tỷ USD). Điều đó cho
thấy phát triển ngành cơ khí còn nhiều bất cập. trong đó đặc biệt là công
nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí và phát triển sản xuất sản phẩm cơ khí trọng
điểm chưa đáp ứng được các mục tiêu đề ra.

I. Tổng quan phát triển ngành cơ khí Việt Nam (tiếp)
I. Tổng quan phát triển ngành cơ khí Việt Nam (tiếp)
•Ngày 09/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành các
Quyết định số 879/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát
triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến
năm 2035 và Quyết định số 880/QĐ-TTg phê duyệt Quy
hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó định
hướng Chiến lược phát triển nhóm ngành Cơ khí và
Luyện kim là: Giai đoạn đến năm 2025 là ưu tiên các
nhóm ngành, sản phẩm: máy móc thiết bị phục vụ nông
nghiệp, ôtô và phụ tùng cơ khí, thép chế tạo. Sau năm
2025, ưu tiên các nhóm ngành, sản phẩm: đóng tàu, kim
loại màu và vật liệu mới.

II. Khái quát tình hình phát triển ngành cơ khí Hải Phòng
II. Khái quát tình hình phát triển ngành cơ khí Hải Phòng
•Hải Phòng là thành phố nằm trên tuyến hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà
Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh val trong vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng
Bắc Bộ - khu vực phát triển năng động của cả nước. Với lợi thế về mặt
cảng biển và vị trí địa lý, từ lâu Hải Phòng đã trở thành Trung tâm cơ khí
lớn của khu vực phía Bắc, ngành cơ khí Hải Phòng phát triển theo định
hướng đa dạng hóa sản phẩm, phục vụ cho nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội,
trong đó tập trung phát triển công nghiệp nặng: các ngành đóng tầu, chế
tạo thiết bị phục vụ cảng, sản xuất các cấu kiện kim loại siêu trường, siêu
trọng…, đã có nhiều đóng góp quan trọng vào giá trị SXCN của ngành và
phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
•Hiện tại trên địa bàn thành phố có gần 2.000 cơ sở sản xuất cơ khí, nếu
tính theo số doanh nghiệp thì có khoảng gần 500 doanh nghiệp, trong đó
phần lớn là các cơ sở sản xuất các sản phẩm từ kim loại, tiếp đó là các cơ
sở sản xuất phương tiện vận tải, sản xuất xe có động cơ,sản xuất thiệt bị
máy móc, dụng cụ y tế, dụng cụ chính xác… với số lao động sử dụng gần
25% tổng số lao động ngành công nghiệp; hơn 29% giá trị SXCN trên địa
bàn thành phố.

