
TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI KỲ
NHÀ NGUYỄN (1802-1884)
CHƯƠNG
VIII
MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Tổ chức bộ máy nhà nước nhà Nguyễn
- Những thay đổi, cải cách và xu hướng phát triển BMNN

Nội dung nghiên cứu
1. Lược sử triều đại
2. Tổ chức chính quyền trung ương
3. Tổ chức chính quyền địa phương

Thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ (1802-1884)
Thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến (1884 -1945)
-Gia Long (1802-1819)
-Minh Mạng (1820-1840)
-Thiệu Trị (1841-1847)
-Tự Đức (1848 -1883)
-Dục Đức (16-19/6/1883)
-Hiệp Hòa (6/1883-11/1883)
-Kiến Phúc (12/1883-8/1884)
Lược sử triều đại

Hoàn cảnh ra đời
- Hệ thống hành chính không chặt chẽ, thiếu thống nhất từ trung
ương đến cơ sở, địa phương cục bộ và phân tán (làng xã)
- Tình trạng bất ổn và chống đối
+ Đàng ngoài: ổn định hơn trong xu thế trì trệ, bùng nhùng trong hoàng hôn
của một thời thịnh trị vào buổi đầu thời Lê Sơ (thế kỷ XV)
+ Đàng trong – Nam hội tụ cư dân thuộc nhiều sắc tộc (Người Việt, Mãn
Thanh, Chăm và dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên…) là chỗ dựa cơ bản của
chúa Nguyễn Phúc Ánh (đặc biệt vùng Gia Định)
+ Phú Xuân: Đất định đô
- Thời kỳ hậu nội chiến phân liệt triền miên

+ Nhà Thanh vẫn theo truyền thống cho mình là Thiên triều, phải “cầu phong”
để thừa nhận tính chính thống của vương triều;
+ Phía tây: Vạn Tượng (Lào), Chân Lạp (Miên) không ổn định, có vấn đề
về biên cương lãnh thổ phải dàn xếp
- Lãnh thổ quốc gia rộng, phức tạp
+ Phương Tây (Pháp): Nguyễn Ánh cần trả nợ “ân tình” trong xu hướng
bành trướng cửa tư bản PT

