CHƢƠNG MỞ ĐẦU
1.1.GIỚI THIỆU MÔN HỌC
Khi hội đang ngày càng phát triển, cuộc
sống đang dần được cải thiện. Con người
luôn khao khát một khoảng thời gian,
một không gian để nghỉ ngơi, thư giãn, để
lấy lại cân bằng trong cuộc sốngĐó cũng
chính do những khu nghỉ dưỡng
(RESORT) ra đời để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của con người.
lợi thế trên 2.000 km chiều dài bãi
biển, cùng một nền văn hóa đa dạng
sự ổn định về chính trị an ninh, nên du
lịch biển luôn một thế mạnh của du
lịch Việt Nam. Chính thế, trong vài
năm gần đây, lượng khách quốc tế đến
Việt Nam đông, trong khi khách du lịch
trong nước nhu cầu nghỉ dưỡng, giải
trí tăng cao, đã kéo theo một dãy hi vọng
lớn lao cho ngành kinh doanh resort Việt
Nam.
Theo thống của Vụ khách sạn Tổng
cục du lịch, tính đến thời điểm tháng 3
năm 2010, tại Việt Nam đã 98 resort
đăng đưa vào hoạt động với 8.150
phòng, trong đó 60 resort đã được xếp
hạng (6 năm sao, 27 bốn sao, 20 ba sao,
3 hai sao 4 một sao). Tuyến điểm tập
trung nhiều nhất các khu resort phải kể
đến Mũi (Bình Thuận) với 68 resort
hiện đang hoạt động.
Mỗi resort đều thế mạnh riêng, từ việc
thiết kế, sản phẩm, dịch vụ, phong cách
phục vụ cho đến những chương trình
khuyến mãi, quảng bá, nhưng điểm
chung tạo sự đa dạng, phong phú loại
hình du lịch, vui chơi giải trí tại Việt
Nam. Chính hệ thống resort dày, tiềm
năng phục vụ tốt đã góp phần tăng giờ lưu
trú cho khách du lịch, một bài toán luôn
làm đau đầu các nhà quản Việt Nam
nhiều năm nay
Tình hình kinh doanh resort Việt Nam chỉ giai
đoạn khai trên nhiều phương diện: quy hoạch,
thiết kế xây dựng, xây dựng sản phẩm, quảng
xúc tiến, đào tạo…Từ đó xuất hiện các resort
cùng tính chất hoạt động, vừa đơn điệu vừa
giống nhau về sản phẩm làm ảnh hưởng đến tính
khả thi phát triển vững bền của dự án. Chất
lượng quy hoạch, đặc biệt quy hoạch chi tiết,
trong đó các yếu tố sản phẩm, tài nguyên du lịch,
thị trường khách, yếu tố kinh tế, tài chính, hội
chưa được nhìn nhận, phân tích thấu đáo, nên kéo
theo một số dự án thành dự án treo, gây thiệt hại
cho nhà đầu cả địa phương dự án.