
1
BÀI GIẢNG CHUYÊN ĐỀ:
THẦN KINH HỌC:
RỐI LOẠN PHẢN XẠ
Biên soạn: PGS.TS.Phan Việt Nga

2
MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ:
Sau khi học xong chuyên đề “Thần kinh học: Rối loạn phản xạ”
người học có thể:
- Biết được đặc điểm giải phẫu, sinh lý của phản xạ.
- Nắm được một số phản xạ thường dùng trong lâm sàng.
- Nắm được một số triệu chứng rối loạn phản xạ.
- Nắm được một số phản xạ bệnh lý bó tháp.

3
NỘI DUNG
I. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ CỦA PHẢN XẠ
1. Định nghĩa
Phản xạ là sự đáp ứng của cơ thể đối với các kích thích từ bên trong hoặc bên
ngoài cơ thể, đáp ứng đó được thực hiện thông qua hệ thần kinh trung ương.
Cơ sở chức năng của hệ thần kinh là hoạt động phản xạ. “Tất cả những hoạt
động của đời sống có ý thức và không có ý thức, về phương diện phát sinh mà nói,
thực chất đều là phản xạ” (Sechenov).
Trong khi khám về thần kinh, tìm các phản xạ là một việc rất quan trọng vì
sự thay đổi và chênh lệch phản xạ giữa hai bên cơ thể là triệu chứng rất khách
quan.
2. Một số đặc điểm giải phẫu, sinh lý của phản xạ
Tất cả các phản xạ đơn giản cũng như phức tạp nhất (đều có cung phản xạ.
Cung phản xạ bao gồm:
- Diện tiếp nhận (da, niêm mạc, gân cơ...).
- Đường dẫn truyền hướng tâm.
- Trung khu phản xạ.
- Đường dẫn truyền ly tâm.
- Cơ quan đáp ứng.
Những cung phản xạ đơn giản nhất đóng mạch ngay ở bộ máy khoanh đoạn
tuỷ sống, thành phần cung phản xạ gồm tế bào cảm giác (với khâu nhận cảm và
hướng tâm) tế bào vận động (ở sừng trước tuỷ sống) là khâu ly tâm và cuối cùng là
cơ quan đáp ứng (cơ). Bộ máy khoanh đoạn ở thân não là do những dây thần kinh
sọ não, nhân của chúng và mối liên hệ giữa các nhân hợp thành.
Cơ sở sinh lý của chức năng tuỷ sống và thân não là cung phản xạ tương ứng
và các hoạt động điều tiết của não bộ. Hầu hết các khâu của hoạt động phản xạ

4
được thực hiện bởi hệ thần kinh, vì vậy thông qua chức năng cung phản xạ ta có thể
đánh giá được cấu trúc thần kinh tương ứng.
Khi kích thích (như gõ vào gân cơ) xung kích thích theo đường cảm giác
(hướng tâm), được truyền tới tuỷ sống. Đường vận động (ly tâm) truyền xung động
tới cơ tương ứng làm co cơ. Đó là phản xạ một xináp, các phản xạ một xináp có kết
nối là trực tiếp giữa 2 neuron thần kinh. Đối với các phản xạ đa xináp chỗ nối có sự
tham gia của từ 3 neuron trở lên.
3. Phân loại phản xạ
Trong thực tế có nhiều loại phản xạ và có nhiều cách phân loại khác nhau.
- Căn cứ vào phương thức hình thành người ta phân chia thành hai loại: phản
xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện, hai loại này có mối liên hệ phụ thuộc,
liên quan đến sự phát triển của hệ thần kinh.
+ Phản xạ không điều kiện có tính chất bẩm sinh và vĩnh viễn, thường được
thực hiện tại khoanh đoạn tuỷ sống hoặc thân não như phản xạ gân xương, phản xạ
da, niêm mạc...
+ Phản xạ có điều kiện được thành lập trên cơ sở những phản xạ không điều
kiện và được hình thành ở vỏ não, trong quá trình phát triển của đời sống cá thể.
- Căn cứ vào chức năng của cơ quan đáp ứng, các phản xạ được chia thành
phản xạ vận động (có sự tham gia của cơ vân) và phản xạ thực vật (bài tiết, dinh
dưỡng, vận mạch, hô hấp, dạ dày, ruột...).
- Tuỳ thuộc vào vị trí của các thụ cảm thể, người ta phân chia thành phản xạ
nông (phản xạ da, niêm mạc) và phản xạ sâu (phản xạ gân xương).
+ Phản xạ sâu: do kích thích các thụ cảm thể nằm trong các gân, cơ bằng
cách gõ búa phản xạ hoặc kéo căng gân, cơ, bao khớp.
Người đầu tiên mô tả các phản xạ này và đề xuất phương pháp tìm phản xạ
này là Gowers. Năm 1886, Gowers đã viết "Đập một cái vào gân của một cơ làm
cho nó bị căng ra đột ngột sẽ gây ra hiện tượng co rút cơ đó". Đó chính là phương
pháp tìm phản xạ, dùng búa phản xạ gõ một cái đột ngột vào một gân làm cho một

5
nhóm cơ co lại đột ngột. Nếu khi ta gõ vào một cơ thì chỉ có một số thớ cơ bị co
rút, nhưng khi gõ vào đầu gân hay chỗ bám của một cơ thì cả cơ đó co lại. Người ta
dựa vào vị trí gõ để đặt tên cho phản xạ.
Ví dụ: gõ búa phản xạ vào gân gối gây kích thích những thụ thể của gân và
cơ tứ đầu đùi. Luồng xung động hướng tâm qua dây thần kinh đùi đến rễ sau vào
sừng sau, chuyển sang sừng trước, đến rễ trước và những sợi vận động của dây thần
kinh đùi kích kích cơ tứ đầu đùi gây co cơ.
Phản xạ sâu hay còn gọi là phản xạ riêng của cơ vì cơ quan thụ cảm và cơ
quan đáp ứng chỉ là một, đây là phản xạ đơn xináp (cung phản xạ thường có hai
neuron).
+ Phản xạ nông: là phản xạ đa xináp do những cung phản xạ có nhiều khớp
thần kinh ở não và đối với mỗi phản xạ da thì đoạn ngoại biên của cung phản xạ có
một đoạn tuỷ tương ứng chi phối. Phản xạ nông còn gọi là phản xạ xa, ở đây cơ
quan cảm thụ và cơ quan đáp ứng là hai cơ quan khác nhau.
Dụng cụ khám là kim đầu tù, dựng vạch hoặc châm trên da.
- Trong lâm sàng, cách phân loại phản xạ có ý nghĩa nhất là phản xạ sinh lý
và phản xạ bệnh lý. Khi thăm khám hệ thần kinh, việc khám và đánh giá chức năng
các phản xạ có thể nói là việc làm quan trọng nhất, vì nó có tích chất khách quan
hơn so với khám cảm giác.
II. MỘT SỐ PHẢN XẠ THƯỜNG DÙNG TRONG LÂM SÀNG
Bảng liệt kê các phản xạ rất dài và mỗi ngày một dài thêm, vì ngoài một số
phản xạ chính về sau người ta phát hiện và bổ sung thêm. Tuy số phản xạ đã được
mô tả rất lớn nhưng số phản xạ được dùng hàng ngày không phải là nhiều và được
phân loại:
- Phản xạ sinh lý gồm phản xạ sâu (phản xạ gân xương) và phản xạ nông
(phản xạ da). Phản xạ gân xương và phản xạ da là một trong những chức năng
khoanh đoạn của tuỷ hoặc thân não. Mỗi khoanh đoạn phụ trách một hoặc nhiều
phản xạ.

