
ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI TẬP LỚN
KINH TẾ HỌC ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Thực hiện bởi :
MSSV:
MSSV:
MSSV:
MSSV:
MSSV:
MSSV:
MSSV:
Lớp :
Giảng viên:
Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2020

MỤC LỤC
Định nghĩa……………………………………………1
Giai đoạn 2008- 2018
A. BỐI CẢNH………………………………………...2
B. CHÍNH SÁCH ĐỀ RA……………………………2
C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC…………………………..6
D. BÀI HỌC RÚT RA………………………………..7
Giai đoạn 2019-2020
A. BỐI CẢNH…………………………………………8
B. CHÍNH SÁCH ĐỀ RA…………………………….9
C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC…………………………..10
D. BÀI HỌC RÚT RA………………………………..10

Định nghĩa:
Đặt trong bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô và khó khăn từ các thị trường, khó khăn
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thì trách nhiệm và vai trò
của chính sách tiền tệ (CSTT) là rất lớn, mang tính quyết định đến việc hoàn
thành các mục tiêu, kế hoạch và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội mà
Chính phủ đã đề ra qua từng năm.
Vậy chính sách tiền tệ là gì ?
Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ
(monetary policy) là quá trình quản lý cung tiền (money supply)
của cơ quan quản lý tiền tệ (có thể là ngân hàng trung ương),
thường là hướng tới một lãi suất mong muốn (targeting interest
rate) để đạt được những mục đích ổn định và tăng trưởng kinh
tế - như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt
được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế.
Chính sách tiền tệ có thể chia làm: chính sách mở rộng và
chính sách thu hẹp.
oChính sách mở rộng ( Expansionary Policy ): là
tăng cung tiền lên hơn mức bình thường.
oChính sách thu hẹp ( Contractionary Policy) : là
một biện pháp tiền tệ đề cập đến việc giảm thiểu
trong chi tiêu chính phủ (cụ thể là thâm hụt chi tiêu)
hay trong tỉ lệ mở rộng tiền tệ của ngân hàng trung
ương.
Mục tiêu nhắm đến
oLãi suất
oLượng cung tiền
** Thông thường, không thể thực hiện đồng thời hai mục tiêu
này. Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh tế ở tình trạng bình thường thì mục tiêu lãi suất
được lựa chọn. Còn khi kinh tế quá nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ
sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó là lượng cung tiền.
1

Giai đoạn 2008 – 2018
A. Bối cảnh:
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Những tháng đầu của năm 2008, lạm phát tiếp tục tăng cao, chỉ tính riêng
3 tháng đầu năm 2008, chỉ số CPI đã tăng là 9,1%
Xu hướng tăng của lạm phát 3 tháng đầu năm 2008 không có dấu hiệu
dừng.
B. CHÍNH SÁCH ĐỀ RA
Nhà nước ta lúc này đã đưa ra CSTT dựa vào 3 mục tiêu chính:
Kiềm chế lạm phát
Ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối
Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Điều hành chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát năm 2008
1. Chỉ đạo các Tổ chức tính dụng (TCTD) kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực
cho vay có rủi ro cao như đầu tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản:
Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ
cho vay
2

Yêu cầu các TCTD khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư
nợ cho vay bất động sản ở mức hợp lý so với tổng dư nợ và
nguồn vốn cho vay.
Ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của TCTD theo
hướng chặt chẽ hơn.
2. Sử dụng các công cụ của Chính sách tiền tệ (CSTT) điều tiết lượng vốn
khả dụng của các Ngân hàng thương mại (NHTM) tác động lên khả
năng cung vốn ngân hàng ra thị trường theo mục đích đặt ra và thu hút
mạnh tiền từ lưu thông về, cụ thể:
Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB).
Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành
20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các TCTD có quy mô vốn huy
động bằng VND trên 1.000 tỷ đồng
(trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các TCTD
hoạt động trên địa bàn nông thôn).
6 tháng đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) đã 2 lần thay đổi
các lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu theo hướng
tăng lên.
+Tăng lần 1: lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên
13%/năm, lãi suất chiết khấu lên 11%/năm.
+ Tăng lần 2: Lãi suất cơ bản lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên
15%/năm, lãi suất chiết khấu lên 13%/năm.
Lạm phát tuy có xu hướng giảm dần, nhưng vẫn ở mức cao và xu hướng
giảm chưa rõ nét, chưa ổn định.
3

