BÀI TẬP
MÔN: PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH
CHƯƠNG 4. CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
III. TÌNH HUỐNG
3. TÌNH HUỐNG 3
Công ty TNHH Sông Tranh (Công ty Sông Tranh) có trụ sở chính tại tỉnh Bình Dương
và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vào ngày 21/12/2015. Công ty có
vốn điều lệ là 01 tỷ đồng, có 04 thành viên với vốn góp như sau: ông M sở hữu 91%
vốn điều lệ, ông N sở hữu 04% vốn điều lệ, ông E sở hữu 03% vốn điều lệ và ông F sở
hữu 02% vốn điều lệ. Các thành viên bầu ông M làm Chủ tịch HĐTV; ông M cũng là
Giám đốc của Công ty.
Giả định Điều lệ của Công ty Sông Tranh không có quy định khác với Luật Doanh
nghiệp, anh/chị hãy cho biết ý kiến của mình về các sự việc sau đây:
1. Tháng 2/2016, ông E và ông F có dự định gửi văn bản yêu cầu Chủ tịch HĐTV
triệu tập họp HĐTV để giải quyết một số vấn đề liên quan đến hoạt động của Công
ty. Ông E và ông F có thể thực hiện việc này hay không? Vì sao?
Chỉ ông E và ông F thì không có quyền yêu cầu Chủ tịch HĐTV triệu tập họp
HĐTV để giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty.
‐Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 49 Luật Doanh nghiệp 2020.
‐Giải thích:
+Theo cơ sở pháp lý trên, khi Công ty TNHH hai thành viên trở lên có một thành
viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ của Công ty và Điều lệ Công ty không có quy
định một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Doanh
nghiệp 2020 thì nhóm các thành viên còn lại đương nhiên có các quyền theo quy
định tại khoản 2 Điều này, bao gồm quyền yêu cầu triệu tập họp HĐTV để giải
quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền (điểm a khoản 2 Điều 49 Luật Doanh
nghiệp 2020).
+Theo tình huống trên, Công ty Sông Tranh có vốn điều lệ là 1 tỷ, gồm 4 thành
viên là M, N, E, F. Trong đó, có một thành viên là ông M (91% vốn điều lệ) sở
hữu trên 90% vốn điều lệ của Công ty thì nhóm các thành viên còn lại là ông N
(04% vốn điều lệ), E (03% vốn điều lệ), F (02% vốn điều lệ) đương nhiên có các
quyền tại khoản 2 Điều 49 Luật Doanh nghiệp 2020, nghĩa là nhóm thành viên
gồm ông N, E, F mới có quyền yêu cầu triệu tập họp HĐTV giải quyết các vấn
đề thuộc thẩm quyền, chỉ ông E và ông F thì sẽ không có quyền yêu cầu triệu tập
họp HĐTV.
2. Tháng 7/2016, ông M đã nhân danh Công ty Sông Tranh ký hợp đồng thuê một tài
sản của ông N.
Các thành viên còn lại cho rằng việc làm này của ông M là trái với quy định của
pháp luật, bởi vì đây là loại hợp đồng phải được sự chấp thuận của HĐTV Công ty
Sông Tranh. Anh/chị hãy cho biết ý kiến của mình về việc làm của ông M và ý kiến
của các thành viên còn lại?
Việc ông M nhân danh Công ty Sông Tranh ký hợp đồng thuê tài sản với ông N
là thành viên của Công ty mà không đưa ra để HĐTV xem xét việc chấp thuận là không
hợp lý và hợp đồng trên đương nhiên bị vô hiệu trước pháp luật:
‐Cơ sở pháp lý: Điểm a khoản 1 Điều 67, khoản 1 Điều 55 và điểm đ khoản 1 Điều
56 Luật Doanh nghiệp 2020.
‐Giải thích:
+ Ông M là chủ tịch HĐTV, kiêm giám đốc của Công ty Sông Tranh, nên ông M
có quyền đại diện hợp pháp cho Công ty ký kết hợp đồng, giao dịch.
+ Tuy nhiên, hợp đồng mà ông M nhân danh Công ty ký kết với thành viên của
Công ty là ông N thuộc loại hợp đồng có nguy cơ tư lợi, loại hợp đồng này muốn
ký kết phải được sự chấp thuận của HĐTV trong Công ty, mà HĐTV trong công
ty bao gồm tất cả các thành viên của Công ty. Vì vậy, ông M không có quyền
quyết định việc ký kết loại hợp đồng này với ông N, phải đợi HĐTV trong công
ty thông qua (Cụ thể phải được sự chấp thuận của ông E, ông F thì ông M mới
được phép ký kết hợp đồng thuê tài sản với thành viên là ông N).
3. Giả sử HĐTV Công ty họp để xem xét việc thông qua hợp đồng nêu trên, nhưng
ông F không tham gia, anh/chị hãy nêu điều kiện để hợp đồng được thông qua.
‐Cơ sở pháp lý: điểm a khoản 3 Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2020.
Trường hợp Công ty Sông Tranh họp để xem xét việc thông qua hợp đồng thuê
tài sản giữa ông M với ông N, nhưng ông F không tham gia. Các điều kiện để hợp đồng
được thông qua:
‐Điều kiện 1: Ông N không có quyền tham gia vào cuộc họp vì tài sản trong hợp đồng
cho thuê là của ông N.
‐Điều kiện 2: Được các thành viên dự họp sở hữu từ 65% tổng số vốn góp của các
thành viên dự họp trở lên tán thành. Trong tình huống trên chỉ cần ông M tán thành
thì hợp đồng sẽ được thông qua. Vì:
+Thành viên của công ty gồm ông M, ông N, ông E, ông F với vốn điều lệ của
Công ty là 1 tỷ. Trong cuộc họp có ông N không có quyền tham gia và ông P
không tham gia. Vậy số thành viên dự họp còn lại là ông M và ông E.
+Số vốn góp của các thành viên dự họp: ông M (91% vốn điều lệ => 910.000.000
đồng) và ông E (03% vốn điều lệ => 30.000.000 đồng). Tổng số vốn của các
thành viên dự họp là 940.000.000 đồng. Vì vậy, hợp đồng muốn thông qua phải
được thành viên sở hữu 611.000.000 đồng tương ứng với 65% tổng số vốn góp
của các thành viên dự họp tán thành, mà ông M sở hữu 910.000.000 đồng vốn
điều lệ (91% vốn điều lệ), nên chỉ cần ông M tán thành vấn đề này trong cuộc
họp thì hợp đồng sẽ được thông qua.
4. TÌNH HUỐNG 4
A, B, C cùng góp vốn thành lập Công ty TNHH X kinh doanh thương mại và dịch vụ.
Ngày 05/02/2021, Công ty được Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hồ Chí Minh cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì
phần vốn góp của các bên vào vốn điều lệ được xác định như sau:
A góp bằng một căn nhà tại đường Nguyễn Tất Thành, Quận 4, trị giá 400 triệu
đồng, chiếm 40% vốn điều lệ. Căn nhà này được Công ty sử dụng làm trụ sở
giao dịch.
B góp vốn bằng một số máy móc xây dựng trị giá 300 triệu đồng, chiếm 30% vốn
điều lệ.
C góp 300 triệu đồng tiền mặt, chiếm 30% vốn điều lệ.
Sau khi Công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các thành viên đã
thực hiện thủ tục góp vốn vào Công ty theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp. Để
tổ chức bộ máy quản lý nội bộ Công ty, các thành viên nhất trí cử A làm Chủ tịch
HĐTV, B làm Giám đốc, và C là Kế toán trưởng Công ty. Điều lệ của Công ty quy định
B là người đại diện theo pháp luật của Công ty.
Do sự biến động trên thị trường bất động sản nên giá trị thực tế của căn nhà mà A mang
ra góp vốn đã lên tới 1 tỷ đồng. Với lý do trước đây không có tiền mặt để góp vốn nên
phải góp bằng căn nhà, nay đã có tiền mặt, A yêu cầu rút lại căn nhà trước đây đã mang
góp vốn, và góp thế bằng 500 triệu đồng tiền mặt. B và C không đồng ý.
Giá trị căn nhà tăng lên thuộc về A hay thuộc về công ty?
Theo khoản 2 Điều 47 Luật doanh nghiệp 2020 thì thành viên công ty chỉ được
góp vốn cho công ty bằng loại tài sản khác với tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành
của trên 50% số thành viên còn lại. Trong tình huống trên có đề cập A yêu cầu rút lại
căn nhà trước đây đã mang góp vốn, và góp thế bằng 500 triệu đồng tiền mặt. B và C
không đồng ý. Do đó, A không thể rút lại căn nhà vì đã không nhận được sự tán thành
của trên 50% số thành viên còn lại và giá trị căn nhà tăng lên sẽ thuộc về công ty.
A có thể rút căn nhà trước đây đã mang góp vốn để góp thế bằng 500 triệu đồng tiền
mặt được không? Căn cứ pháp lý?
A không thể rút lại căn nhà đã mang đi góp vốn cho công ty. Căn cứ theo khoản
2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020: “Thành viên phải góp vốn cho công ty đủ và đúng
loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ
ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển,
nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài
sản. Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ
phần vốn góp đã cam kết. Thành viên công ty chỉ được góp vốn cho công ty bằng loại
tài sản khác với tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của trên 50% số thành viên
còn lại.” Trường hợp này theo quy định trên khi có sự thay đổi tài sản góp vốn trong
trường hợp cụ thể của A là thay đổi từ tài sản cố định (căn nhà) sang góp bằng tiền mặt
thì A phải có sự thỏa thuận của đa số các thành viên còn lại nhưng do B và C không
đồng ý nên A không thể rút lại căn nhà.
Giả sử B và C đồng ý cho A rút lại căn nhà và góp tiền thay thế vào thì có đúng pháp
luật không? Căn cứ pháp lý của việc này có thể tham chiếu ở đâu?
Kể từ lúc A dùng căn nhà để góp vốn thì căn nhà đã là tài sản của công ty, phần
giá trị gia tăng của căn nhà theo biến động thị trường vì thế cũng thuộc về công ty.
Trong trường hợp B và C đồng ý cho A rút lại căn nhà và góp tiền thay thế vào, miễn
A trả đủ số tiền 1 tỷ (giá trị hiện hành của căn nhà) thông qua mua bán chuyển nhượng
với công ty thì hành động của A hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Cơ sở pháp lý: Điều 47, 48 Luật doanh nghiệp 2020.
5. TÌNH HUỐNG 5
Công ty TNHH Phương Đông
An, Bình, Chương và Dung thành lập công ty TNHH Phương Đông kinh doanh mua
bán thủy sản, vật tư ngành thủy sản với vốn điều lệ là 1 tỉ đồng. An góp 200 triệu đồng
bằng tiền mặt (20% vốn điều lệ); Bình góp một chiếc ô tô được định giá 200 triệu đồng
(20% vốn điều lệ); Chương góp kho bãi kinh doanh, một số thiết bị vật tư được định giá
500 triệu đồng (50% vốn điều lệ); và Dung góp 100 triệu đồng bằng tiền mặt (10% vốn
điều lệ).
Theo Điều lệ công ty, Chương là Chủ tịch HĐTV, Bình là giám đốc, An là Phó
giám đốc; Giám đốc là người đại diện theo pháp luật cho công ty. Sau một năm hoạt
động phát sinh mâu thuẫn giữa Chương và Bình. Với tư cách là Chủ tịch HĐTV và là
người góp nhiều vốn nhất, Chương ra một quyết định cách chức Giám đốc của Bình và
bổ nhiệm An làm Giám đốc thay thế. Không đồng ý với quyết định kể trên, Bình vẫn
tiếp tục giữ con dấu của công ty. Sau đó với danh nghĩa công ty Phương Đông, Bình ký
hợp đồng vay 700 triệu đồng của công ty TNHH Trường Xuân. Theo hợp đồng, công
ty Trường Xuân chuyển trước 300 triệu đồng cho công ty Đông Phương. Toàn bộ số
tiền này được Bình chuyển sang tài khoản cá nhân của minh. Theo sổ sách, tài sản của
công ty Phương Đông vào thời điểm này khoảng 1,2 tỷ đồng.
Chương kiện Bình ra Tòa án, yêu cầu Bình nộp lại con dấu cho công ty, phải
hoàn trả số tiền 300 triệu đồng cho công ty và bồi thường thiệt hại cho công ty. Thêm
nữa, công ty TNHH Trường Xuân cũng khởi kiện công ty Phương Đông, yêu cầu hoàn
trả số tiền 300 triệu đồng mà Trường Xuân đã cho Phương Đông vay.
Câu hỏi:
1. Quyết định cách chức giám đốc Bình và bổ nhiệm giám đốc An có đúng không?
Tại sao?
‐Quyết định cách chức giám đốc Bình và bổ nhiệm giám đốc An là không phù hợp
với quy định của pháp luật. Vì:
Thứ nhất, thẩm quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm
dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc thuộc thẩm quyền của HĐTV,
không thuộc thẩm quyền của riêng cá nhân chủ tịch HĐTV trong công ty TNHH hai
thành viên trở lên.
Thứ hai, quyết định này của Chương chưa thông qua HĐTV bằng biểu quyết tại
cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định. Ở
tình huống này, điều lệ công ty TNHH Phương Đông không có quy định khác. Do
vậy, nếu Chương muốn ra quyết định cách chức Bình và bổ nhiệm An thay thế thì phải
triệu tập cuộc họp HĐTV và được các thành viên dự họp sở hữu từ 65% tổng số vốn
góp của tất cả thành viên dự họp trở lên tán thành.
‐Cơ sở pháp lý: điểm đ khoản 2 Điều 55; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3
Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2020.
2. Việc Bình nhân danh công ty Phương Đông ký hợp đồng vay nợ của Trường Xuân
có đúng pháp luật không?
Việc Bình nhân danh công ty Phương Đông ký hợp đồng vay nợ của Trường
Xuân không phù hợp với quy định của pháp luật. Bình là giám đốc của công ty