CASE STUDY PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP
Case study 1
Công ty TNHH Hòa Bình (Công ty Hòa Bình) chuyên sản xuất đồ mộc gia dụng được
Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp vào tháng 10-2021 với số vốn điều lệ 5 tỷ đồng từ việc góp vốn của 4
cá nhân là Dương, Thành, Trung và Hải, có trụ sở chính đặt tại Phố Đội Cấn, thành phố
Hà Nội.
Trong thỏa thuận góp vốn, các thành viên thỏa thuận rằng, Dương góp 800 triệu
đồng bằng tiền mặt, chiếm 16% vốn điều lệ của công ty.
Thành góp vốn bằng giấy nhận nợ của Công ty TNHH Đông Đô là một đối tác
tiềm năng mà Thành có quan hệ rất mật thiết, đồng thời các thành viên cũng xác định
Công ty này sẽ là bạn hàng chủ yếu của Công ty Hòa Bình. Tổng số tiền trong giấy nhận
nợ là 1tỷ 300 triệu đồng, được các thành viên nhất trí định giá là 1 tỷ 200 triệu đồng và
phần vốn góp của Thành chiếm 24% vốn điều lệ.
Trung góp vốn bằng ngôi nhà của mình để làm trụ sở công ty và được các thành
viên nhất trí định giá là 1 tỷ 500 triệu đồng (chiếm 30% vốn điều lệ), do tin chắc rằng
trong thời gian tới, theo bảng quy hoạch gắn ở đầu làng, con đường trước ngôi nhà đó
sẽ được mở rộng, mặc dù theo mặt bằng giá cả hiện tại thì trị giá ngôi nhà chỉ khoảng
700 triệu đồng.
Hải cam kết góp 1 tỷ 500 triệu đồng bằng tiền mặt, nhưng sau 90 ngày kể từ ngày
Công ty được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp, chỉ thực góp được 900 triệu đồng.
Sau hơn một năm hoạt động, công ty có số lãi sau khi đã nộp thuế là 800 triệu
đồng. Hội đồng thành viên họp để phân chia số lợi nhuận này. Tuy nhiên, đã có những
bất đồng. Trung cho rằng phần góp vốn của Thành là không hợp pháp. Hơn nữa, công
ty Đông Đô chỉ mới trả được 600 triệu đồng thì bị tuyên bố phá sản nên Thành chỉ được
chia lãi trên ½ số vốn cam kết góp, sau khi đã bồi thường cho công ty Hòa Bình ½ số
nợ còn lại không đòi được trong khoản 1 tỷ 300 triệu đồng nợ của công ty Đông Đô.
Thành cho rằng việc định giá ngôi nhà là tài sản góp vốn của Trung không đúng với giá
trị trên thực tế khi quy hoạch mở rộng con đường trước ngôi nhà có thông báo hủy bỏ,
do vậy, vốn thực góp của Trung chỉ là 700 triệu đồng tại thời điểm góp vốn nên chỉ được
chia lãi theo tỷ lệ với số vốn thực góp này.
NHỮNG VẤN ĐỀ THẢO LUẬN
1. Thành có thể góp vốn bằng giấy nhận nợ hay không? Những vấn đề đặt ra khi
không đòi được nợ. Nêu rõ căn cứ pháp lý cho ý kiến của mình.
a) Thành có thể góp vốn bằng giấy nhận nợ hay không?
- Theo quy định tại Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020, tài sản góp vốn bao gồm:
“Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng
Việt Nam.”
Điều kiện cốt lõi để một tài sản được dùng góp vốn là phải là tài sản thuộc quyền
sở hữu hợp pháp của người góp vốn và phải xác định được giá trị bằng tiền.
- Trong tình huống này, “giấy nhận nợ của Công ty TNHH Đông Đô” không
phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của Thành. Đây chỉ là một quyền đòi nợ, tức là
quyền yêu cầu một bên khác thực hiện nghĩa vụ trả tiền, và nó chưa chắc chắn
mang lại giá trị kinh tế thực tế, đặc biệt là khi Công ty Đông Đô có thể mất khả năng
thanh toán, phá sản.
- Theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá
và quyền tài sản. Giấy nhận nợ chỉ có thể được coi là quyền tài sản nếu người nhận
nợ có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nhưng trong trường hợp này, giấy nhận nợ không
bảo đảm được khả năng thanh toán, do đó không thể coi là tài sản góp vốn hợp
pháp.
=> Kết luận:Thành không thể góp vốn bằng giấy nhận nợ, vì:
- Giấy nhận nợ không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của Thành tại thời điểm
góp vốn.
- Việc góp vốn bằng “quyền đòi nợ” chỉ hợp pháp nếu các thành viên định giá
được và chuyển giao quyền đòi nợ một cách hợp lệ theo Điều 450 và Điều 365 Bộ luật
Dân sự 2015 (về chuyển giao quyền yêu cầu).
- Trong tình huống này, việc góp vốn chỉ dừng ở “thỏa thuận miệng và định giá”,
không có hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ hợp lệ, nên không có giá trị pháp lý.
b) Vấn đề đặt ra khi không đòi được nợ
- Công ty Đông Đô phá sản và chỉ trả được 600 triệu đồng, phần còn lại (700 triệu
đồng) không được coi là đã góp vốn
- Theo khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020: “Thành viên chưa góp hoặc
chưa góp đủ phần vốn góp như đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần
vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty.”
- Như vậy:
Thành chưa góp đủ vốn theo cam kết (chỉ có thể coi là góp được 600 triệu đồng
trên 1,2 tỷ đồng).
Thành phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty do việc góp vốn
không đúng quy định gây ra.
Đồng thời, thành viên Trung yêu cầu chỉ chia lợi nhuận theo phần vốn thực góp
là có cơ sở pháp lý.
- Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2020, nếu sau 90 ngày kể từ
ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Thành chưa góp đủ vốn:
Phần vốn chưa góp sẽ không được coi là đã góp;
Thành chỉ được ghi nhận là thành viên tương ứng với phần vốn thực góp;
Phần vốn chưa góp có thể được chào bán cho thành viên khác hoặc người ngoài
công ty.
Vấn đề Nội dung Căn cứ pháp lý
1. Có được góp vốn bằng
giấy nhận nợ không?
Không, vì giấy nhận nợ không phải là tài
sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp,
không đảm bảo giá trị thực.
Điều 34, 35 Luật Doanh
nghiệp 2020; Điều 105
BLDS 2015
2. Vì sao vẫn được cấp
Giấy chứng nhận doanh
nghiệp?
Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ căn cứ
hồ sơ, không kiểm tra thực tế việc góp
vốn.
Điều 26 Nghị định
01/2021/NĐ-CP
3. Khi không đòi được nợ
thì sao?
Phần vốn chưa góp không được công
nhận, Thành phải bồi thường và chỉ
hưởng lợi nhuận theo vốn thực góp.
Điều 47, 48 Luật Doanh
nghiệp 2020
4. Trách nhiệm của các
thành viên khác
Các thành viên còn lại có quyền yêu cầu
điều chỉnh tỷ lệ vốn góp, hoặc khởi kiện
yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 188 BLDS 2015;
Điều 48 LDN 2020
Kết luận
- Việc Thành góp vốn bằng giấy nhận nợ của Công ty Đông Đô là không hợp pháp,
vì không đáp ứng điều kiện là tài sản thuộc quyền sở hữu của người góp vốn và có khả
năng chuyển giao giá trị thực.
- Cơ quan đăng ký kinh doanh vẫn cấp phép là do chỉ dựa trên cam kết vốn, không
kiểm tra thực tế.
- Khi khoản nợ không thu hồi được, phần vốn đó không được coi là đã góp, Thành
phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chỉ được chia lợi nhuận theo phần vốn
thực góp.
2. Hãy nêu những quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 về việc góp vốn vào Công
ty này và ý kiến của mình đối với việc các thành viên thỏa thuận định giá ngôi nhà
của Trung cao hơn giá thực tế 800 triệu đồng.
a) Quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 về việc góp vốn
- Theo Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020, tài sản góp vốn có thể là: “Đồng Việt
Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ,
công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.”
=> Như vậy, tài sản góp vốn không nhất thiết phải là tiền, mà có thể là nhà ở, đất đai,
máy móc, thiết bị, quyền tài sản,… miễn là xác định được giá trị quy đổi bằng tiền và
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người góp vốn.
=> Trung góp vốn bằng ngôi nhà là hợp pháp về hình thức, nếu Trung chứng minh
được quyền sở hữu hợp pháp của mình đối với ngôi nhà (có giấy chứng nhận quyền sở
hữu, quyền sử dụng hợp lệ).
- Thời hạn góp vốn: Theo khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020, thành viên công
ty TNHH phải góp đủ vốn như đã cam kết trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nếu không góp đủ hoặc góp không đúng loại tài sản
đã cam kết:
Phần vốn chưa góp được xem là chưa góp.
Thành viên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty.
=> Trong tình huống này, Trung đã góp vốn bằng ngôi nhà ngay khi thành lập công ty,
nên đáp ứng yêu cầu về thời hạn góp vốn.
- Việc định giá tài sản góp vốn: Theo Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020, quy định rõ:
Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng
phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên
nghiệp định giá.
Nếu các thành viên tự định giá, thì phải nhất trí về giá trị tài sản góp vốn.
Nếu giá trị tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế, thì các thành viên sáng lập
cùng liên đới chịu trách nhiệm về phần chênh lệch và thiệt hại phát sinh.
=> Đây chính là điểm mấu chốt trong trường hợp của Trung.
a) Phân tích việc định giá ngôi nhà của Trung
- Các thành viên công ty Hòa Bình đã nhất trí định giá ngôi nhà của Trung là 1,5
tỷ đồng, trong khi giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn chỉ khoảng 700 triệu đồng. Việc
định giá cao hơn dựa trên dự đoán về việc mở rộng đường trong tương lai. Tuy nhiên,
kế hoạch quy hoạch đó đã bị hủy bỏ, dẫn đến việc giá trị thực tế của tài sản không tăng
như kỳ vọng.
=> Điều này đặt ra hai vấn đề pháp lý chính:
(1) Vi phạm nguyên tắc định giá tài sản góp vốn
- Theo Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020, việc định giá tài sản góp vốn phải phản
ánh đúng giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn, không dựa vào dự đoán tương lai.
Do đó, việc định giá dựa trên khả năng “đường sẽ mở rộng” là không có căn cứ pháp
lý.
Giá trị góp vốn phải xác định tại thời điểm chuyển giao tài sản, không phải giá trị ước
tính trong tương lai.
(2) Trách nhiệm pháp lý khi định giá sai
-Căn cứ khoản 3 Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020: “Nếu tài sản góp vốn được
định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn, thì các thành viên, cổ đông sáng
lập liên đới chịu trách nhiệm về khoản chênh lệch đó.”
→ Nghĩa là:
Trung và các thành viên sáng lập khác (Dương, Thành, Hải) đều phải chịu trách
nhiệm chung về việc định giá sai.
Phần chênh lệch 800 triệu đồng phải được điều chỉnh lại, hoặc Trung phải bồi
thường cho công ty phần chênh lệch này nếu gây thiệt hại cho công ty hoặc
cho các thành viên khác.
b) Ý kiến cá nhân
-Về mặt pháp lý: Việc các thành viên thỏa thuận định giá ngôi nhà của Trung cao
hơn giá trị thực tế 800 triệu đồng là vi phạm quy định về định giá tài sản góp
vốn. Giá trị tài sản phải được xác định trung thực, khách quan, phản ánh giá thị
trường tại thời điểm góp vốn, không được dựa vào dự đoán tương lai hay kỳ vọng
chủ quan.
-Về mặt thực tiễn: Việc định giá cao hơn làm cho:
Cơ cấu vốn điều lệ bị “ảo”, không phản ánh đúng năng lực tài chính của công
ty.
Gây thiệt hại cho các thành viên khác (vì Trung được hưởng lợi nhuận, quyền
biểu quyết cao hơn tương ứng với phần vốn “ảo”).
Dễ phát sinh tranh chấp trong chia lợi nhuận và xử lý trách nhiệm sau này.
-Về hướng xử lý: Công ty có thể:
Yêu cầu định giá lại tài sản góp vốn thông qua tổ chức thẩm định giá độc lập;
Điều chỉnh lại tỷ lệ vốn góp của Trung trong công ty;
Nếu gây thiệt hại, Trung và các thành viên liên quan phải bồi thường phần chênh
lệch 800 triệu đồng cho công ty.
c) Kết luận
Theo Luật Doanh nghiệp 2020:
Trung có thể góp vốn bằng nhà ở, nhưng việc định giá phải phù hợp với giá trị
thực tế tại thời điểm góp vốn.
Việc định giá ngôi nhà cao hơn giá trị thực tế 800 triệu đồng là không hợp pháp
và vi phạm Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020.