
PHÂN TÍCH 4 LOẠI ẨM VÀ
LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ LÂM SÀNG
NƠI CÔNG TÁC
Họ và tên: NGUYỄN MẠNH HIẾU
MSSV: 24CHUD021
Lớp: Thạc sĩ ứng dụng K1
Môn: Tác phẩm kinh điển
>
HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
BỘ MÔN Y LÝ YHCT

Anh/chị hãy nêu cách phân tích 4 loại ẩm.
Liên hệ với thực tế lâm sàng nơi anh/chị công tác.

PHẦN I: TỔNG QUAN

Chứng ẩm và các tác phẩm kinh điển.
Theo Y học cổ truyền, đàm ẩm là sản phẩm bệnh lý, có nguồn gốc do tân dịch ngưng tụ biến hóa thành.
Do lục dâm, thất tình làm cơ năng của 3 tạng tỳ, phế, thận bị ảnh hưởng, tân dịch không phân bố và
vận hành được ngưng tụ thành thấp, thấp hóa thành đàm ẩm.
Đàm ẩm là sản phẩm bệnh lý, trong đó đàm là chất đặc, ẩm là chất loãng, đàm ẩm sau khi hình
thành theo khí đi đến các nơi, ảnh hưởng đến sự vận hành của khí huyết gây bệnh.
Đến tác phẩm “Kim quỹ yếu lược” của Trương Trọng Cảnh, một trong những y thư kinh
điển của Y học cổ truyền, chứng ẩm được phân tích sâu hơn. Trương Trọng Cảnh là người
đầu tiên hệ thống hóa và đưa ra 4 loại ẩm dựa trên vị trí đình trệ và các triệu chứng của 4
loại ẩm. Theo Trương Trọng Cảnh, chứng ẩm được chia ra làm 4 loại, bao gồm: Đàm ẩm,
huyền ẩm, chi ẩm và dật ẩm.
Bộ sách “Hoàng đế nội kinh” là một trong những y thư sớm nhất đề cập đến chứng ẩm. Trong Nội kinh
tổ vấn, tỳ chủ vận hóa thủy cốc, nếu tỳ hư, vận hóa kém sinh ra thủy thấp. Trong Nội kinh linh khu lại
lý giải thủy thấp khi không được vận hóa sẽ sinh ra đàm ẩm, từ đó sinh ra tiêu chảy, phù thũng, đầy
trướng. Trong Nội kinh cũng có diễn giải con đường đi của thủy dịch trong cơ thể như sau: Thủy dịch
khi đi vào đến vị, tinh khí được đưa lên tỳ, tỳ đưa thủy dịch lên phế, phế điều tiết thủy đạo, dẫn xuống
bàng quang, tinh khí của thủy dịch được phân bố khắp nơi, kinh mạch vận hành được thuận lợi. Đường
đi của thủy dịch cũng chính là cơ sở lý luận để biện chứng luận trị chứng ẩm sau này.

Ẩm là sản phẩm bệnh lý được sinh ra do tân dịch ngưng tụ mà biến hóa thành. Theo “Hoàng đế nội kinh” :
thủy dịch khi đến vị , tinh khí được đưa lên tỳ, tỳ lại vận hóa rồi đưa lên phế, phế chủ điều tiết thủy đạo,
đưa tân dịch đi khắp nơi, rồi đưa xuống bàng quang, tại bàng quang, thủy dịch được thận khí hóa rồi đưa ra
ngoài qua đường tiền âm. Như vậy, ba tạng trực tiếp tham gia vào khí hóa nước là tỳ, phế và thận.
Nguyên nhân của chứng ẩm.
Khi lục tà xâm phạm hoặc thất tình làm tổn thương công năng của các tạng tỳ,
phế, thận, tân dịch không được phân bố và vận hành sẽ ngưng lại thành thấp,
thấp sinh ra đàm và ẩm. Sau khi hình thành, ẩm sẽ theo khí đi đến tạng phủ,
kinh mạch, gây cản trở khí huyết, công năng của tạng phủ mà gây ra bệnh.
Tùy theo vị trí gây bệnh mà thủy ẩm được gọi là đàm ẩm, huyền ẩm,
chi ẩm và giật ẩm.

