
Đánh giá tác động của dự án đã trở thành một phần quan trọng của dự án hiện tại này. Cái
quan trọng trước tiên là khảo sát Kiến thức, Quan điểm và Thực tiễn của người nông dân
trước và sau khi có sự tác động của dự án. Hầu như tất cả nông dân (hơn 2000) tham dự ở các
FFS đều trải qua cuộc khảo sát. Thông qua việc thực hiện dự án và nhóm thực hiện dự án đã
hiểu biết thêm được nhiều hơn về tác động của dự án thông qua việc khảo sát Kiến thức
Quan điểm và Thực tiễn (KAP). Các FFS đã được triễn khai tại 2 xã của mỗi tỉnh. Các nội
dung nghiên cứu cơ bản bao gồm: trồng cây, cắt tỉa, bón phân, quản lý đọt non và thu hoạch,
kỹ thuật tưới tiêu, quản lý dịch hại và bệnh và đánh giá thu nhập thực của mỗi ha. Các cuộc
phỏng vấn cũng đã được thực hiện với các đại lý cung cấp thuốc BVTV (Xem phụ lục
XXX). Các cuộc phỏng vấn cũng đã được thực hiện vào giữa các khoá học với ít nhất 5 thành
viên của mỗi FFS của mỗi tỉnh. Những đánh giá thêm này đảm bảo cho kết quả đánh giá một
cách chính xác hơn, nhưng hoàn toàn không có ngân sách trong dự án cho việc làm thêm này
mà việc này chỉ có thể thực hiện được là do sự nhiệt tình của các đối tác phía Việt Nam đối
với dự án và đã thực hiện tất cả các cuộc phỏng vấn mà không có chi phí nào thêm. Tất cả
những thành viên chủ chốt trong dự án (ngoài những người nông dân ra) đều hoàn tất một
cuộc khảo sát và 3 người quản lý dự án chính đã viết ra những điều nhận xét của họ về kết
quả tác động của dự án. Kết quả được trình bày rất cụ thể về tác động có lợi của dự án đến
kinh tế, xã hội và môi trường. Những lợi ích về kinh tế cũng đã được so sánh với chi phí đầu
tư cho FFS.
1.1.2 Vật liệu và phương pháp
Phương pháp đánh giá tác động của FFS thì vẫn còn đang phát triển cũng như chưa có được
định hình một cách thống nhất (van den Berg and Jiggins 2007). Tuy nhiên nhìn chung rằng
đánh giá tác động của FFS là một công việc rất phức tạp bởi vì tính đa dạng của những tham
số và phối cảnh khác nhau của các đối tác (van den Berg and Jiggins 2007). Những đánh giá
tác động được trình bày trong báo cáo này và phương pháp đã sử dụng dựa trên những đánh
giá tác động đã được thực hiện bởi những người đã thực hiện trước đây, bao gồm tổ chức
chính phủ và phi chính phủ. Những đánh gía bao gồm sự tự đánh giá bởi những người nông
dân và sự tự đánh giá bởi những đối tác trong dự án để đảm bảo rằng những tham số đã đánh
giá mà đã đưa ra để đánh giá này thì đáng tin cậy nhất cho những đối tác. Một giới hạn của
phương pháp này là nó có thể bị lệch lạc theo hướng chủ quan và nói phóng đại về những lợi
ích của FFS. Tuy nhiên, sự giới hạn này đã được hạn chế đến mức thấp nhất bằng việc sử
dụng một số lượng lớn các mẫu khảo sát và phép đạc tam giác gồm: những cuộc khảo sát,
những cuộc phỏng vấn giữa khoá và những quan sát thực tế trên đồng ruộng. Kết quả được
đánh giá bằng việc so sánh dọc (ví dụ như sự so sánh trước và sau khi huấn luyện). Theo kiểu
đánh giá này thì cũng có một giới hạn của nó đó là những tác động của các FFS đôi khi bị
biến động theo thời gian chẳn hạn như sự khác nhau về năng suất và giá cả thị trường biến
động từ năm này đến năm khác. Dù vậy việc nghiên cứu tác động đã được thực hiện ở những
vùng khác nhau, trong nhiều tỉnh (9) và trên những chủng loại cây có múi khác nhau (cam,
quýt và bưởi) để giảm ảnh hưởng biến động của thời gian. Tuy nhiên thật là tiếc rằng việc kết
hợp so sánh theo chiều dọc và chiều ngang đã không thể thực hiện được vì quả thực chúng
tôi không đủ kinh phí.
Trong đánh giá tác động này chúng tôi đã không so sánh trực tiếp những kết qủa phỏng vấn
với những kết quả điều tra cơ bản đã trình bày trong những báo cáo mốc thời gian 4 và 6.
Tuy nhiên, kết quả điều tra cơ bản đã là một kinh nghiệm rất quan trọng cho cả hai điều phối
viên dự án phía Úc và Việt Nam từ đó giúp chúng tôi hiểu được nhiều hơn về những gì mà
người nông dân trồng cây có múi ở những vùng khác nhau của Việt Nam cần và để loại bớt
nhiều khái niệm mà đã được tập hợp trong đề cương dự án mà chúng tôi không thể thực hiện.
4