
Việt Nam trồng cây có múi. Tuy nhiên, sức sản xuất và sản lượng cây có múi tại Việt
Nam luôn luôn thấp hơn so với nhiều nước phát triển khác. Đây là tình hình chung mà
theo đánh giá của Bộ NN & PTNT “một cách tổng quát, về sự canh tác cây có múi thì
mức độ phát triển không có ý nghĩa trong một số năm vừa qua, vấn đề lớn là do sự
gây hại nghiêm trọng của nhiều côn trùng và bệnh hại đặc biệt là bệnh Greening (bệnh
vàng lá gân xanh (hay còn được gọi là Huanglongbing) vì vậy việc nghiên cứu biện
pháp phòng trị chúng kết hợp với việc quản lý vườn cây có múi và sử dụng kỹ thuật
tiên tiến là vấn đề hết sức cần thiết (Bộ NN & PTNT, 2004).
Mục tiêu của Dự án nầy là tiến hành huấn luyện cho Huấn luyện viên (TOT) về
“IPM” trên cây có múi, đối với Huấn luyện viên thì tiến hành các lớp “FFS” ở địa
phương của họ và đánh giá sự hữu hiệu của mô hình “FFS” trong việc gia tăng kiến
thức cho người nông dân nhằm giảm việc sử dụng thuốc trừ dịch hại trong canh tác
cây có múi. Từ những mục tiêu nầy sẽ góp phần vào việc giúp đỡ nông dân trồng cây
có múi tăng cường khả năng của họ để có những quyết định tốt hơn trong quản lý sâu
bệnh hại thông qua tiếp nhận các mô hình về chiến lược “IPM” trong sản xuất cây có
múi tại Việt Nam. Mặt khác, các Huấn luyện viên về “IPM” trên cây có múi sẽ được
củng cố và có những kinh nghiệm thực tế cần thiết rất quý báu để huấn luyện thông
qua việc họ đã được quản lý ít nhất một vụ kéo dài của lớp “FFS” ở vườn cây có múi,
Việt Nam sẽ tăng cường khả năng một cách có ý nghĩa để phát triển chương trình
“IPM” trên cây có múi trong cả nước.
Sẽ có rất nhiều kết quả hữu hiệu thông qua việc huấn luyện “IPM” đã có mô hình
trình diễn trong các hệ thống cây trồng khác. Những kết quả nầy bao gồm: Lợi ích của
nông dân thông qua việc tăng cường kiến thức về hệ sinh thái nông nghiệp; bảo tồn sự
đa dạng hóa về sinh học và việc bảo vệ môi trường thông qua việc hạn chế sử dụng
thuốc trừ dịch hại không cần thiết và việc sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học;
gia tăng an ninh lương thực do sản suất được tăng cường và bảo vệ được sức khoẻ
cộng đồng cũng như người tiêu thụ qua việc giảm sử dụng thuốc trừ dịch hại trong sản
xuất cây ăn trái.
Những phương pháp mấu chốt đã được chấp nhận trong Dự án nầy là nông dân tham
gia học và hành một cách cơ bản. Hai kỹ thuật mục tiêu là tham gia gắn kết một cách
đầy đủ và cho phép nông dân nghiên cứu học hỏi trực tiếp để có được nhu cầu hiểu
biết tốt nhất.
4. Tiến độ cho đến thời điểm báo cáo
4.1 Những điểm chính đáng lưu ý
Những điểm đáng lưu ý đã được đề cập trong kế hoạch họp mặt vào ngày 25 tháng
01/2005 mà các đối tác Dự án đã đưa ra phác hoạ chung. Những người đã được chỉ
định những nhiệm vụ và thời hạn khác nhau cần lưu ý đã được đặt ra. Rồi thì buổi họp
các đối tác của Dự án đã được tiến hành vào ngày 22/3/200. Tại buổi họp nầy, nơi tiến
hành “TOT” và các địa phương sẽ thực hiện các lớp “FFS” cũng đã được xác định
trong bản thảo của chương trình. Có 2 khoá huấn luyện cho Huấn luyện viên “TOT”
sẽ được tổ chức từ ngày 18-29/4/2005 và từ ngày 09-20/5/2005. Các lớp “FFS” đã
được đề cập sẽ tiến hành vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6/2005. Từ ngày 01-19/6 sẽ đi
kiểm tra các lớp “FFS” do các đối tác của Úc và Việt Nam trong Dự án, các dữ liệu cơ
bản đã được chọn lựa để thu thập và hướng dẫn các thí nghiệm mô hình bổ sung.
3