
3
việc trẻ hoá vườn cây, dự thảo chi phí và kế hoach cho một chu kỳ sản xuất. Trong năm đầu
tiên của dự án 98 cán bộ khuyến nông từ 12 tỉnh đã được huấn luyện và đã tổ chức thực hiện
được 24 FFS với 728 nông dân đã được cấp chứng chỉ. Trong năm thứ hai của dự án thêm
111 cán bộ khuyến nông được huấn luyện và họ đã tổ chức thực hiện được 48 FFS với 1520
nông dân được cấp chứng chỉ. Trong năm thứ nhất của dự án các huấn luyện viên từ tỉnh Cần
Thơ đã in ấn 12 áp phích để giảng dạy về các loại dịch hại chính trên cây có múi. Vào lúc bắt
đầu cho năm thứ hai của dự án bộ áp phích này đã được in ấn trên vật liệu không thấm nước
và phân phối cho toàn bộ FFS với nguồn kinh phí tài trợ thêm của ACIAR. Một quyển sách
với tựa đề “IPM trên cây có múi- Hướng dẫn sinh thái” cũng đã được xuất bản vào cuối năm
thứ nhất của dự án và 1030 bản đã được phân phát cho các huấn luyện viên và nông dân tham
gia. Quyển sách đã được nhiều người chấp nhận vì thế đã được tiếp tục in ấn để phân phát
cho toàn bộ các nông dân tham gia FFS. Vào lúc kết thúc dự án một quyển sách thứ hai với
tựa đề “Hướng dẫn đồng ruộng về dịch hại trên cây có múi” đã được xuất bản với số lượng là
5030 quyển đang được phân phát cho các huấn luyện viên và tham dự viên FFS. Một cuộc
khảo sát kiến thức, thái độ, và thực tiễn (KAP) của các nông dân tham gia đã được thực hiện
vào lúc bắt đầu và kết thúc mỗi FFS cho thấy rằng thái độ của nông dân đã được ảnh hưởng
nhờ vào việc tham gia FFS. Kiến thức của họ về các loại sâu bệnh hại đã được cải thiện một
cách có ý nghĩa và số lần phun thuốc đã giảm. Vào lúc kết thúc dự án một cuộc đánh giá
những tác động về kinh tế, xã hội và môi trường đã được thực hiện bằng các cuộc phỏng vấn
cá nhân của 53 nông dân từ 13 địa điểm. Cuộc khảo sát này đã cho thấy rằng trong năm sau
khi tham gia FFS, thực hành canh tác của nông dân đã thay đổi gồm việc giảm sử dụng thuốc
trừ dịch hại, thay đổi loại thuốc được sử dụng từ loại thuốc có phổ tác động rộng với mức tác
động rất mạnh đến môi trường sang loại thuốc mềm hơn, việc quản lý đất tốt hơn nhờ vào
việc gia tăng sử dụng phân hữu cơ và quản lý tán cây được tốt hơn. Các nông dân cũng gia
tăng việc nhận thức của họ về việc áp dụng thuốc trừ dịch hại, giữ sổ ghi chép, sau thu hoạch
và thị trường. Đa số nông dân đều khai rằng lợi nhuận thực của họ đã gia tăng chính là kết
quả của việc giảm chi phí đầu vào và tăng được năng suất và chất lượng quả. Việc tham gia
FFS đã làm gia tăng tình cảm giữa các tham dự viên FFS và sự chuyển việc quản lý vườn từ
những người đàn ông sang vợ của họ để họ có thể đi làm những công việc khác. Sự thành lập
các hợp tác xã sau khi các FFS đã kết thúc là một bước rất quan trọng trong việc duy trì năng
lực đã được gia tăng của cộng đồng nông trại để cải thiện ngành sản xuất cây có múi. Tuy
nhiên để duy trì những điều này, các nhóm trang trại cần sự tài trợ về tài chính với các điều
kiện tín dụng dễ dàng hơn để họ phát triển các công nghệ sau thu họach và có điều kiện tiếp
cận thị trường. Sự duy trì mạng lưới huấn luyện viên đã được bồi dưỡng từ dự án này đòi hỏi
phải tiếp tục cấp thêm kinh phí. Mặc dù điều này ban đầu đã được sự tài trợ của chính quyền
các tỉnh, nhưng khả năng các nông dân đóng góp phần nào chi phí cho các FFS cần được
xem xét trong tương lai, đặc biệt nếu các nông dân là thành viên của các câu lạc bộ cây có
múi hay là các hợp tác xã. Chi phí cho mỗi thành viên tham gia FFS được ước tính khoảng
70,62 đô la Úc, chỉ bằng 1,60% lợi nhuận trung bình cho mỗi ha. Dựa vào những ước tính
này chi phí của FFS sẽ được bù lại chỉ trong một mùa nhờ vào việc giảm chi phí đầu vào và
gia tăng năng suất.
4. Giới thiệu và bối cảnh
Cây có múi là một trong những loại cây ăn quả chủ lực của Vịêt Nam (Bộ NN&PTNT 2004)
và sản xuất quả cây có múi là một nguồn thu nhập quan trọng của nhiều nông dân Việt Nam.
Tuy nhiên, sản lượng và ngành sản xuất quả cây có múi ở Việt Nam thì thấp hơn đáng kể so
với ở Úc và nhiều nước trồng cây có múi chủ yếu trên thế giới Brazil và Mỹ. Bộ Nông
nghiệp và PTNT Việt Nam đã cho rằng “ nhìn chung, việc canh tác cây có múi trong vài năm
qua đã đã không được phát triển mạnh, phần lớn là do tác hại nghiêm trọng của dịch hại mà