
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VIỆN CÂY ĂN QUẢ MIỀN NAM
-------------------------------
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI THUỘC DỰ ÁN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP VỐN VAY ADB
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC VÀ HỘ NGHÈO Ở ĐÔNG NAM BỘ VÀ TÂY NGUYÊN
QUA VIỆC PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CÂY ĂN QUẢ
CHỊU HẠN (MÍT, XOÀI, CHUỐI…)
-Cơ quan chủ quản dự án: Bộ Nông nghiệp và PTNT
-Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Cây ăn quả miền Nam
-Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Xuân Khôi
-Thời gian thực hiện đề tài: 2009 – 2011
TIỀN GIANG, NĂM 2012

2
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa số Đồng bào dân tộc và người nghèo ở Đông Nam bộ và Tây nguyên sống
trên những khu vực nông thôn khô hạn do thiếu nước tưới trong mùa khô. Thiếu nước
làm khả năng cải thiện năng suất và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật bị giới hạn. Thiếu
nước, thêm vào đó, do nhu cầu nước sinh hoạt không được đáp ứng đủ nên ảnh hưởng
lớn đến đời sống sinh hoạt của người dân. Điều này cũng góp phần gián tiếp đến khả
năng vươn lên thoát khỏi nghèo của họ.
Bên cạnh việc trồng cây màu ngắn ngày (bắp, đậu, các loại khoai củ và rau), những
cây ăn quả lâu năm được trồng trong khu vực phần lớn là những cây chịu hạn, không cần
tưới nước trong mùa khô. Các cây ăn quả chịu hạn như mãng cầu ta (na), xoài, mít,
chuối.. được trồng trong vườn nhà rải rác ở các nơi. Mặc dù được hỗ trợ từ các dự án
phát triển và khuyến nông, nhưng thực tế ứng dụng công nghệ mới còn thấp do hầu hết
các công nghệ được phát triển trong điều kiện đầu tư thâm canh cao ở những vùng có
đầy đủ nước tưới để tăng năng suất. Hơn nữa tiếp nhận công nghệ của đồng bào nghèo
trong khu vực còn hạn chế do vốn đối ứng, kiến thức và kỹ năng, cơ hội tiếp cận thị
trường….chưa đáp ứng được yêu cầu. Vì thế, đời sống của bà con ở đây vẫn còn nhiều
khó khăn do thu nhập thấp. Việc triển khai nghiên cứu hoàn thiện các quy trình kỹ thuật,
các công nghệ thích hợp nhằm cải thiện năng suất và hiệu quả sản xuất của các cây ăn
quả như xoài, mãng cầu ta, mít và chuối trong điều kiện khó khăn về nước tưới là cần
thiết.
Các kết quả nghiên cứu, các kỹ thuật được chuyển giao từ các viện trường
thường là những sản phẩm theo hướng đầu tư cao, hiệu quả cao; có hiệu quả trong sản
xuất tập trung thâm canh trên những vùng đất có tiềm năng. Trong điều kiện đó, một số
vùng, một số loại đất đai, hay những nhóm người không có cơ hội sử dụng những
thành tựu của các nghiên cứu đó vì không đảm bảo những điều kiện nhất định về vốn
và công cụ, đất đai, hạ tầng, thị trường … Do đó, việc phát triển những kỹ thuật cho
những khu vực không phổ biến, ít có tiềm năng (less-favoured areas) là công việc cần
thiết để góp phần hỗ trợ cho những khu vực và người dân bản địa còn khó khăn.
Đề tài đã lựa chọn những cây trồng (cây mãng cầu ta, xoài, mít và chuối) dễ
tính, có khả năng chịu hạn, thích nghi rộng, và phù hợp trong điều kiện đầu tư thấp hay
thiếu điều kiện đầu tư. Những cây này cũng được cân nhắc về mặt thị trường, có nhu
cầu của thị trường, ít nhất là thị trường địa phương và nếu được cho cả thị trường xa
hoặc chế biến xuất khẩu. Những cây có tiềm năng trong xử lý ra hoa cũng được quan
tâm (xoài, mãng cầu ta) nhằm phát triển các kỹ thuật xử lý ra hoa sớm để bán được giá
cao và đất còn tương đối ẩm lúc cây nuôi trái.
Những kỹ thuật chuyển giao được cân nhắc, là những biện pháp không phức tạp,
dễ áp dụng và khả thi trong điều kiện thực tế của địa phương mà yêu cầu là phù hợp
cho những nông dân ở những vùng có điều kiện khắc nghiệt áp dụng. Kỹ thuật xử lý ra
hoa xoài và mãng cầu ta ngày càng dễ thực hiện hơn nhờ sự hỗ trợ của hóa chất và các
phương tiện khác, và có khả năng áp dụng dưới dạng nông hộ. Kỹ thuật này ngày càng
được quan tâm và ưa thích hơn vì hiệu quả của chúng đem lại và giúp điều tiết rải vụ

3
trái theo nhu cầu thị trường.
Các cây trồng và biện pháp kỹ thuật được đề cập phù hợp với điều kiện sản xuất
thực tế của những địa phương gặp khó khăn về nguồn nước tưới ở vùng sâu. Các địa
điểm chọn lựa cho việc triển khai các thí nghiệm, mô hình cũng được cân nhắc nhằm
đảm bảo ưu tiên cho nhóm người ít có cơ hội (marginal groups) như hộ nghèo, người
vùng sâu vùng dân tộc ít người. Việc triển khai đề tài giúp tăng cường cơ hội tiếp cận
của người nông dân với thông tin, thị trường và công nghệ; góp phần thúc đẩy phát
triển khu vực nông thôn, hỗ trợ cho người nghèo ở vùng nông thôn, vùng sâu, phù hợp
với chiến lược giảm nghèo của các tổ chức tài trợ quốc tế. Do đó việc triển khai đề tài
là cần thiết.

4
Phần 2: MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu tổng quát
Tăng cường cơ hội tiếp cận công nghệ thích hợp nhằm cải thiện thu nhập cho
người nghèo trồng cây ăn quả ở những khu vực khô hạn do khó khăn về nước tưới ở
Đông Nam bộ và Tây nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật về công nghệ thích hợp nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất cho một số cây cây ăn quả chịu hạn (cây xoài, mãng cầu ta, mít
và chuối) góp phần tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc và hộ nghèo trên những vùng
khó khăn về nước tưới ở Đông Nam bộ và Tây nguyên
- Xác định giống cây ăn quả phù hợp với một số vùng hạn (xoài, mãng cầu ta),
tuyển chọn giống mít thích hợp với vùng khô hạn của Đông Nam bộ và Tây Nguyên.
- Chuyển giao các quy trình kỹ thuật tổng hợp trên cây xoài; mãng cầu ta; mít và
chuối theo hướng canh tác bền vững đến đồng bào dân tộc và hộ nghèo ứng dụng vào
điều kiện thực tiễn sản xuất qua việc xây dựng mô hình trình diễn (mô hình thâm canh
tổng hợp trên cây xoài, mãng cầu ta, mít và chuối) và tập huấn kỹ thuật.

5
Phần 3: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC
3.1.Ngoài nƣớc
Trên thế giới ước tính có 1,2 tỷ người sống ở trong điều kiện nghèo tuyệt đối
(1998), phụ thuộc vào lợi tức ít hơn 1 USD/ngày và khoảng 1,6 tỷ người sống ít hơn 2
USD/ngày; một phần ba số người nghèo trên thế giới sống ở vùng nông thôn của
những nước đang phát triển (Ngân hàng Thế giới, 2000). Mặc dù tỷ lệ của Nam Á
trong tổng số người nghèo trên thế giới giảm khoảng 10% điểm giữa năm 1990 và
2000, khu vực này vẫn chiếm 40 % của tổng số người nghèo (Thapa, 2004). Sự thành
công của xóa nghèo ở Đông Nam Á sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được
mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) trong giảm nghèo đói vào năm 2015 (Thapa,
2004).
Việt Nam đã đạt những thành tựu rất ấn tượng trong giảm nghèo qua 11 năm từ
1993-2004 (Thang và cs, 2006). Mức nghèo dựa trên tiêu dùng đã giảm từ 58,1% năm
1993 xuống còn 19,5% trong năm 2004, mức sụt giảm 39% điểm qua 11 năm. Theo số
tuyệt đối, chừng 24 triệu người được thoát khỏi nghèo qua giai đoạn 11 năm từ 1993 -
2004 (Thang và cs, 2006)
Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng là đóng góp chính cho thành tựu này. Thực
vậy, Việt Nam là một trong những quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế cao giai đoạn
1993-2004. Sự lồng ghép giữa tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo được thực hiện khá
tốt (World Bank, 2003). Tuy nhiên vẫn còn đó nhiều thách thức trong công tác giảm
nghèo. Trong đó, thách thức lớn là khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, giữa vùng
miền và dân tộc.
Ravallion và cs., (2007) ước tính (năm 2002) chừng 75% của người nghèo ở
những nước đang phát triển vẫn sống ở khu vực nông thôn. Dẫn đến nhiều nước hiểu
một cách gián tiếp nghèo đói như là nông thôn (IFAD, 2001). Nhiều trong số họ sống ở
vùng sâu vùng xa, cách trở giao thông; trong đó có người bản địa, dân tộc ít người.
Anríquez và Stamoulis (2007) cho rằng nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát
triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo và sự phát triển chung.
Ở Đông Nam Á, nghèo đói tập trung nhiều ở khu vực nông thôn. Người nghèo
đặc trưng bởi không có đất hoặc tiếp cận có hạn đối với đất đai hay một số tài nguyên
sản xuất khác. Nông hộ nghèo có xu hướng gia đình đông hơn, được giáo dục thấp hơn
và tình trạng thiếu việc làm cao hơn. Người nghèo thiếu những phương tiện căn bản hệ
thống cấp nước, vệ sinh, điện. Tiếp cận với tín dụng và công nghệ bị giới hạn nghiêm
trọng và một số rào cản, như thiếu thông tin về thị trường, thiếu kinh nghiệm kinh
doanh và đàm phán và thiếu một tổ chức tập thể cho họ, tước đi của họ năng lực cần
thiết để tiếp cận thị trường một cách công bằng (IFAD 2001).
Nhiều nhà tài trợ đã xây dựng cho mình chiến lược giảm nghèo cho khu vực
Nam Á qua những chương trình hỗ trợ phát triển. Ngân hàng Thế giới (WB) đã đề

