ISSN: 2354 -1091 Journal of Science Tay Bac University (JTBU) https://sj.utb.edu.vn
39
BO TN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TR VĂN HÓA CA DÂN TC KHÁNG
TI XÃ CHIỀNG ƠN, HUYỆN QUNH NHAI, TNH SƠN LA
GN VI PHÁT TRIN DU LCH
Điêu Thị Vân Anh
Trƣờng Đại hc Tây Bc
THÔNG TIN BÀI BÁO
TÓM TẮT
Ngày nhn bài: 29/06/2023
Ngày nhận đăng: 30/07/2023
T khoá: Văn hóa, Dân tộc
Kháng, Chiềng Ơn, Quỳnh Nhai
Dân tc Kháng dân tc thiu s lch s văn hóa lâu đi.
Sơn La, dân tc Kháng sng tp trung ch yếu Chiềng Ơn,
huyn Quỳnh Nhai. Tuy nhiên, cho đến nay, đời sng ca h còn
gp nhiều khó khăn đang đứng trƣớc nguy bị “hòa tan”
trong nền văn hóa của các dân tc khác. Mc Chính ph
địa phƣơng đã nhiu chƣơng trình h tr cho ngƣời Kháng
nhƣng kết qu đạt đƣợc còn rt khiêm tn. thế, vic bo tn,
phát huy các giá tr văn hóa của dân tc Kháng Chiềng Ơn,
huyn Qunh Nhai, tỉnh Sơn La để ci thiện đời sng nhân dân và
thúc đẩy s phát trin du lịch địa phƣơng thể coi mt gii
pháp tháo g nhng tn ti trên.
1. Đặt vấn đề
Xuất phát từ thực tế hiệu quả những chính
sách của Nhà nƣớc đối với dân tộc Kháng còn
hạn chế cùng với xu thế phát triển của du lịch
hiện nay, đặt ra vấn đề cần tính toán một giải
pháp vừa tăng hiệu quả chính sách vừa thúc đẩy
sự phát triển du lịch địa phƣơng dựa trên tiềm
năng vốn có. Từ nhiều nguồn liệu: lịch sử,
văn hóa, các văn bản báo cáo kết hợp liệu
điền dã, với phƣơng pháp nghiên cứu: sử học,
dân tộc học các phƣơng pháp liên ngành
theo hƣớng tiếp cận văn hóa, kinh tế… bài báo
tập trung giải quyết các vấn đề sau: khái quát
về dân tộc Kháng tại Chiềng Ơn, huyện
Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, những hội
thách thức đang đặt ra đối với dân tộc Kháng
hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của dân tộc
này phục vụ việc phát triển ngành du lịch tỉnh
Sơn La.
2. Ni dung
2.1. Vài nét v dân tc Kháng Ching
Ơn, huyn Qunh Nhai, tỉnh Sơn
Huyn Qunh Nhai, tỉnh Sơn La nm trong
khu vc quan trng vùng lòng h Thủy điện
Sơn La, cách thành ph Sơn La 65 km về phía
Tây Bc. Din tích t nhiên ca huyn
104.000 ha; Dân s 65.247 ngƣời vi 14.275
h. Huyn 07 dân tc cùng chung sng,
trong đó tỷ l dân tc Thái chiếm 83,35%, dân
tc Kinh 4,37%, dân tc Mông 3,96%, dân tc
Kháng 3,96%, dân tc Dao 1,73%, dân tc La
Ha 2,5%, dân tộc Khơ 0,05%, dân tộc khác
0,09% mang đến s đa dạng, đặc sắc trong văn
hóa, truyn thng l hi. Hin nay, dân tc
Kháng huyn Qunh Nhai gn 4.000
ngƣời, chiếm khong 6% dân s toàn huyn,
sinh sng ch yếu mt s bn, thuc các
Chiềng Ơn, Mƣờng Giàng, Ching Khay,
Nàng, Mƣờng Giôn. Riêng Chiềng Ơn,
ngƣời dân tc Kháng chiếm hơn 60% dân s
còn lƣu giữ nhiều nét văn hóa truyền thng [5].
mt dân tc lch s văn hóa lâu đời,
ngƣời Kháng Chiềng Ơn, huyện Qunh
Nhai, tỉnh Sơn La đã đạt đƣợc nhng thành tu
nhất định trong đời sng vt chất đời sng
tinh thn. H nhiu giá tr văn hóa độc đáo,
riêng bit v phong tc, tp quán, truyn thuyết,
truyn k dân gian… vẫn đƣợc bảo lƣu, trao
truyền đến nay nhƣ: tục ăn, , hôn nhân, tang
ma, tín ngƣỡng th cúng t tiên. Cùng với đó
nhiu nghi l, phong tc tập quán liên quan đến
sn xut nông nghiệp nhƣ: Lễ tra ht, l cơm
mi, l Xíp ... Tuy nhiên, tiêu biu nht vn
L hi Pang Á, do Pa Á (thy cúng) t
chc. L hi Pang Á đƣợc t chc vi quy
ln, gm nhiu bn, c 2 hay 3 năm
đƣợc t chc mt ln vào khong t tháng 10
tới tháng 12 (có nơi nhƣ bản Lm Lu; bn
Đồng Tâm, Chiềng Ơn, huyện Qunh Nhai
thì t chức hàng năm, nhƣng quy nh, c 2
năm thì tổ chc quy mô ln) [5]. L hi đƣợc t
chc vi mục đích mời các “ma nhà”, “ma
bản”, “ma trời” hƣởng l vt những ngƣời
đƣợc Pa Á cha cho khi bệnh (đƣc coi con
nuôi) đến dâng l, t ơn, đồng thời để Pa Á cu
chúc cho hn vía các con nuôi lành mnh,
không hay ốm đau, làm ăn phát tài. Sau khi
Điêu Thị Vân Anh (2024) - (34): 39 - 45
ISSN: 2354 -1091 Journal of Science Tay Bac University (JTBU) https://sj.utb.edu.vn
40
đƣợc cha khi bnh, những ngƣời này đều
nhn thy cúng làm cha nuôi. Hàng năm (hoặc
vài năm), thầy cúng s t chc Nghi lPang
Á để cm t công ơn của các thế lc siêu nhiên
đã phụ tr cho thy cúng làm l cha bnh, t
ơn ma thầy (t nghề). Đồng thời, cũng để các
con nuôi v dâng l lên các thần linh, báo đáp
công lao ca thy, cu mong các thn linh tiếp
tc phù h cho các con nuôi đƣợc khe mnh.
Các con nuôi s tùy theo cấp độ bnh tt khi
đƣợc cu cha, là Cuôn Liệng (ngƣời bnh nh,
làm con nuôi thi gian t 1-3 năm) hay
Cuôn Mƣớng (ngƣời bnh nng, nhn làm con
nuôi vĩnh viễn) chun b các l vt dâng
cúng phù hp theo tc l.
Chính nhng quan nim hoạt động trên
đã tạo ra nét đc sc của văn hóa dân tộc Kháng
so vi các dân tc khác ca vùng Tây Bc.
Ngoài phn l cúng cu xin, l hội còn nơi
ngƣời dân din li các công việc nƣơng rẫy, thu
hái lâm sản trong đời sống thƣờng nht thông
qua các trò diễn; chơi các trò chơi dân gian; hát
đối đáp giao duyên; múa ống, múa khăn. Đây
đồng thi dịp để cộng đồng ngƣời Kháng t
ơn tổ tiên các thế lực siêu nhiên đã giúp đỡ
cho h sc khe, bn làng yên bình, no m,
cũng dịp để mọi ngƣời vui chơi thƣ giãn, sau
những tháng ngày lao đng vt vả. Đặc bit, l
hội còn nơi để những thanh niên chƣa vợ,
chƣa chồng tìm hiu, hn hò, bi vy l hi
Pang Á còn ý nghĩa trong việc tái to cng
đồng dân tc Kháng
Trong hoạt động sn xuất, ngƣời Kháng
cũng nhƣ các dân tộc khác huyn Qunh
Nhai thc hin ch trƣơng của tnh, ca huyn
phát trin nuôi lng, nuôi nht chung,
trồng cây ăn quả, cây dƣợc liệu trên đất dc...
sinh sng ch yếu bng nông nghip khai
thác thy sn trên lòng h thủy điện Sơn La tuy
nhiên kĩ thuật canh tác ca h khá đơn giản còn
nhiu hn chế nên năng suất thấp, không đủ
cung cp nhu cầu lƣơng thực ti chỗ. Chăn nuôi
gia súc không phát trin, ch yếu nuôi th, ch
s dng cho sinh hot hàng ngày l tết, sn
phẩm chăn nuôi chƣa tr thành mt ngun thu
nhp ổn đnh ca h. Ngun thu nhp chính ca
h l thuc vào sn xuất nƣơng rẫy, không n
định, d b tác động bi thiên nhiên. mt s
nơi, sản lƣợng lƣơng thực làm ra ch đủ đáp
ứng trong vòng 7 đến 9 tháng, nhng tháng còn
li h da vào ngun thu t vic đi làm thuê, từ
các ngun thức ăn sẵn trong t nhiên t
rng, sông sui mt phn tr cp ca Nhà
nƣớc [4]. Hơn nữa, vic tiếp cn thông tin ca
đồng bào dân tc Kháng còn rt nhiều khó khăn
nên dẫn đến sự hạn chế về trình độ dân trí, giáo
dục chất lƣợng nguồn nhân lực thấp, thiếu
vic làm việc làm thƣờng năng suất không
cao. Trong xu thế phát triển chung, những biến
đổi của môi trƣờng, hội đã đang tác động
trực tiếp làm thay đổi, xáo trộn cuộc sống
văn hóa của các dân tộc thiểu số. Việc giao lƣu,
giao thoa văn hóa điều tất yếu, tuy nhiên,
một số dân tộc thiểu số ít ngƣời đang đứng
trƣớc nguy mai một bản sắc văn hóa truyền
thống của dân tộc mình. Dân tộc Kháng
Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La
cũng không nằm ngoài thực trạng đó. Bởi lẽ,
những ngƣời già am hiểu về phong tục dân tộc
Kháng còn rất ít, lớp trẻ lại chƣa thực sự
đam với văn hóa truyền thống. Thực tế cho
thấy, vẫn giữ đƣợc tiếng nói riêng nhƣng
nhiều nét văn hóa của ngƣời Kháng đang dần bị
đồng hóa với ngƣời Thái. Đặc biệt, khi xây
dựng nhà máy thủy điện Sơn La, ngƣời Kháng
một trong 04 dân tộc phải di chuyển dân,
nhƣờng đất cho nhà máy vùng lòng hồ thủy
điện với 02 hình thức: một số di vén lên cao,
một số di chuyển nội huyện.
Trong bối cảnh du lịch đƣợc coi ngành
kinh tế mũi nhọn của tỉnh, những năm qua, tỉnh
Sơn La huyện Quỳnh Nhai đã chú trọng bảo
tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
gắn với phát triển du lịch. Theo đó, những giá
trị của nền văn hóa Kháng chính một tiềm
năng du lịch cần đƣợc khai thác. Điều đáng nói
hiện nay dân tộc Kháng số hộ nghèo
722 hộ, chiếm 30,99%; Hộ cận nghèo 357
hộ, chiếm 15,32% [7]. Họ 1 trong số 16 dân
tộc trên toàn quốc cần đƣợc bảo tồn văn hóa
truyền thống khẩn cấp và hiện đang có đời sống
rất khó khăn. Thậm chí, họ nguy bị mai
một những giá trị văn hóa và bị hòa lẫn với các
dân tộc xung quanh. Trong điều kiện kinh phí
dành cho hoạt động này từ ngân sách nhà nƣớc
hợp tác quốc tế thƣờng hết sức hạn hẹp so
với nhu cầu thực tế thì có thể coi việc phát triển
du lịch với sự tham gia của cộng đồng ngƣời
Kháng sẽ tạo ra một nguồn thu đáng kể để
thể bảo tồn của những giá trị văn hóa của dân
tộc này.
2.2. Thc trng bo tn, phát huy các giá
tr văn tru ền thng c ngƣời Kháng
trong phát trin kinh tế gn v i du lch.
Bo tn phát huy giá tr văn hóa truyền
thng ca các dân tc thiu s mt ch
trƣơng lớn của Đảng và Nhà c ta. Phát trin
du lịch văn hóa bảo tn, gìn gi văn hóa
truyn thng các dân tc thiu s tác động
qua lại, tƣơng h ln nhau. Du lch s khó phát
huy hiu qu kinh tế nếu tách ri vi bo tn
khai thác có hiu qu tài nguyên, di sản văn hóa
truyn thống. Ngƣợc li, di sản văn hóa truyền
ISSN: 2354 -1091 Journal of Science Tay Bac University (JTBU) https://sj.utb.edu.vn
41
thng các dân tộc khó đƣợc bo tn và phát huy
nếu thiếu s đầu tƣ, góp công sức ca cng
đồng trong gìn gi.
Thc tin hin nay cho thy không ít thách
thc trong bo tn phát huy các giá tr văn
hóa truyn thng tiêu biu ca dân tc Kháng
trong phát trin kinh tế - hi huyn Qunh
Nhai. Bn sắc văn hóa của dân tc Kháng nhìn
chung đang bị mai mt hoc biến đổi nhanh
chóng. Do yếu t lch s để lại, ngƣời Kháng
chu ảnh hƣởng khá sâu sc t các dân tc khác,
đặc bit dân tc Thái. Cùng vi s phát trin
kinh tế - hi, quá trình sp xếp, t chc li
hoạt động sn xut và cơ cấu li nn kinh tế, thì
quá trình chuyn dịch dân ngày càng tr nên
ph biến, hình thành các cộng đồng dân cƣ hỗn
hp nhiu dân tc, t đó làm nảy sinh nhiu
mi quan h gia các dân tc vi nhau, dẫn đến
s giao thoa, tiếp biến văn hóa. Thông thƣng,
dân tc nào s phát trin kinh tế dân s
đông hơn sẽ chiếm ƣu thế ảnh hƣởng đến
các cộng đồng còn li, to nên s đa dạng, đa
sắc màu trong không gian văn hóa cộng đồng
các dân tc. Trng thái ngôn ng ph biến
vùng ngƣời Kháng hin nay đa ngữ Kháng -
Vit - Thái. Ching Ơn, do dân tộc Kháng
s dân ít li sng phân tán, xen k vào
nhng làng bản đông đúc của dân tc Thái nên
dân tc Kháng chu nh hƣởng ca dân tc Thái
khá đậm nét v tiếng nói phong tục. Ngƣời
Kháng nói tiếng Thái khá thông tho. Trong
tiếng Kháng, vn t chung vi tiếng Thái khá
ln. Tiếng m đẻ của ngƣời Kháng hầu nhƣ chỉ
đƣợc s dng các thế h ln tui. Các hoàn
cnh khác, phn lớn ngƣời Kháng dùng tiếng
Vit tiếng Thái. “Khi một ngôn ng biến
mt, thì nhng kiến thức này cũng s mt theo
điều đó đồng nghĩa với vic mt phn lch
s văn hóa ca nhân loi b xóa s nn
văn hóa chung của thế giới cũng bị nghèo
đi”[3]. Điều đó đồng nghĩa với vic nhng giá
tr vt cht tinh thn dân tc Kháng
đƣợc qua hàng thế k s biến mt, s đa dạng
v văn hóa của vùng Tây Bắc theo đó cũng bị
giảm sút. Điều này gây nên h ly ln v văn
hóa, xã hi.
T nhng thách thc trên còn dẫn đến nguy
mai một nhng giá tr văn hóa vật cht
tinh thần. Ngƣời Kháng vn ngh đan lát nổi
tiếng nhƣng đến nay, s cnh tranh ca hàng
hóa khiến sn phm th công ca h rt khó
tiêu th. Bản thân ngƣời dân cũng sử dng
những đồ dùng hàng ngày mua t bên ngoài
ch không đan lát công phu nhƣ trƣớc đây. Từ
xa xƣa họ không dt vải trao đổi với ngƣời
Thái để ly vi mc hoc h hc cách dt ca
ngƣời Thái nên trang phục ngƣời Kháng không
rõ nét, gn ging vi trang phc của ngƣời Thái
đen....Những yếu t trên khiến ngƣời Kháng
ngày càng chu ảnh hƣởng sâu sc ca dân tc
Thái, đó là chƣa k tới tác đng ca xã hi hin
đại đến cộng đồng ca h. Theo dòng chy ca
thi gian, những nét văn hóa đặc trƣng dn mt
đi, nhƣ kiến trúc nhà , ngh đan lát thủ công,
ngh đẽo thuyền độc mộc... đến nay, ch còn
gi đƣợc điệu a Tăng bu, các điệu hát c,
trang phc truyn thng, m thc ngày tết
mt s l hi... Những ngƣời già am hiu v
phong tc dân tc Kháng còn rt ít, lp tr
lại chƣa thực s đam với văn hóa truyền
thng nên vic bo tn hin nay còn gp nhiu
khó khăn. Biểu hin d thy nht trong trang
phc, h không ch mc trang phc truyn
thng ca dân tc Thái mà còn kết hp c trang
phc dân tc Kinh.
V hiu qu nhng chính sách dân tộc đối
vi các dân tc thiu s Sơn La, trong đó
dân tc Kháng, th thy: Trong thi gian
qua, tỉnh Sơn La đã thực hiện các chƣơng trình
Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững, trong
đó có: Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày
27/12/2008 của Chính phủ về Chƣơng trình
giảm nghèo nhanh bền vững tại 61 huyện
nghèo; Chƣơng trình Mục tiêu quốc gia phát
triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số
miền núi giai đoạn 2020 - 2025 (trong đó
Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số
gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Sơn
La năm 2023). Ngoài ra còn một số chƣơng
trình khác nhƣ: Chƣơng trình hỗ trợ di dân thực
hiện định canh định theo Quyết định
33/2013/QĐ-TTg; Chƣơng trình hỗ trợ đất sản
xuất, đất ở, nƣớc sinh hoạt theo Quyết định số
755/QĐ-TTg... Với những chính sách trên, dân
tộc Kháng Sơn La đã nhận đƣợc sự quan tâm
nhất định, góp phần cải thiện cuộc sống của họ.
Tuy nhiên, Theo Quyết định 1227/QĐ-TTg dân
tộc Kháng Sơn La thuộc nhóm dân tộc còn
gặp nhiều khó khăn giai đoạn 2021-2025. Căn
cứ Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày
27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn
nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025; Quyết
định số 87/QĐ-UBND ngày 12/01/2023 của
UBND tỉnh Sơn La về phê duyệt kết quả rà soát
hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2022 trên địa bàn
tỉnh Sơn La, Dân tộc Kháng 2.330 hộ,
10.674 khẩu, chiếm 0,80%. Trong đó, hộ
nghèo: 722 hộ, 30,99%; Hộ cận nghèo: 357 hộ,
chiếm 15,32% [7]. Nhƣ vậy, nhìn một cách
khách quan thể thấy, những chính sách của
Chính phủ hỗ trợ ngƣời dân tộc thiểu số trong
đó dân tộc Kháng mới chỉ đạt đƣợc những
kết quả rất khiêm tốn.
ISSN: 2354 -1091 Journal of Science Tay Bac University (JTBU) https://sj.utb.edu.vn
42
Nhng thách thức đối vi dân tc Kháng
không nh tuy nhiên những hội cho dân tc
Kháng Chiềng Ơn rất ln, nht trong
thời điểm du lịch đang hƣớng đến nhng giá tr
văn hóa đặc sắc đề cao nhng sn phẩm n
hóa bản địa. Xut phát t thc tin phát trin du
lch những năm gần đây dự báo xu hƣớng
phát trin du lch trong thi gian ti, du lch
sinh thái hiện đang một trong nhng phân
khúc phát trin nht ca ngành du lch, Vit
Nam nói chung Tây Bc nói riêng rt
nhiu li thế để khai thác các sn phm t
nguồn tài nguyên nhân văn phc v phát trin
du lch theo xu thế đó. Ngày càng nhiều du
khách trong ngoài nƣớc tìm đến những điểm
du lch, ngh dƣỡng còn gi đƣợc nét hoang
ca t nhiên những nét đặc sc ca các nn
văn hóa của các dân tc thiu s vùng Tây Bc.
Theo đó, những l hi, phong tc tp quán, tín
ngƣỡng, ngh thuật… của dân tộc Kháng cũng
nhƣ các dân tộc khác Sơn La hoàn toàn phù
hợp để tr thành sn phm du lch phc v du
khách.
Thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 5 khóa
VIII của Đảng về “Xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng
bộ chính quyền huyện Quỳnh Nhai đã
nhiều hoạt động, giải pháp tích cực để khơi
dậy, bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hóa đặc
sắc của dân tộc Kháng tại xã Chiềng Ơn, cụ thể:
Tổ chức phục dựng lễ hội Pang Á; Tháng
7/2018, của Phòng Văn hóa- Thông tin huyện,
Chiềng Ơn đã thành lập Câu lạc bộ giữ gìn
bản sắc văn hóa Kháng với 20 thành viên. Để
lƣu giữ phát huy những nét văn hóa của dân
tộc mình, các thành viên trong CLB đã ch cực
tuyên truyền, vận động con dân tộc Kháng
trong dạy tiếng Kháng cách làm quần áo,
cách nấu những món ăn truyền thống cho con
em mình... Đồng thời, thƣờng xuyên luyện tập,
tham gia các cuộc thi, liên hoan văn hóa, văn
nghệ để quảng hình ảnh về văn hóa dân tộc
Kháng; Tháng 9 năm 2022, Uỷ ban nhân dân xã
đã thông qua quyết định thành lập Câu lạc bộ
dân ca, dân vũ, dân nhạc dân tộc Kháng, xây
dựng nhân rộng hình dân vũ, dân tộc
Kháng gắn với phát triển du lịch huyện Quỳnh
Nhai, bình quân mỗi bản ngƣời Kháng
Chiềng Ơn 2-3 ngƣời, trong đó nhiều nhất
bản Đán Đăm. Theo quyết định, các thành viên
sẽ tiếp tục duy trì phát huy hiệu quả các
chƣơng trình dân ca, dân dân tộc kháng đã
đƣợc tập huấn để gìn giữ, phát huy nét đẹp bản
sắc dân tộc, phục vụ các hoạt động chính trị,
văn hóa, hội nhằm giữ gìn phát huy giá trị
văn hóa truyền thống dân tộc Kháng gắn với
phát triển du lịch của huyện và của tỉnh.
Hơn nữa, địa bàn phân bố của ngƣời Kháng
hiện nay tập trung một số khu vực giao
thông tƣơng đối thuận lợi, nhiều nơi còn nằm
trên hệ thống tuyến điểm du lịch. Cụ thể, ngƣời
Kháng Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai
nằm trên vùng lòng hồ thủy điện sông Đà vốn
đƣợc coi Hạ Long trên núi… Việc xây dựng
tuyến, điểm du lịch sẽ giúp kết nối các sản
phẩm du lịch trên.
Quyết định về việc điều chỉnh quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch tỉnh Sơn La đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030, cũng chỉ rõ, một
trong những quan điểm phát triển du lịch tỉnh
Sơn La phát triển “trọng tâm, trọng điểm
bền vững gắn với việc bảo tồn phát huy
các giá trị văn hóa dân tộc, các giá trị tự
nhiên…”. Với mục tiêu “về văn hóa - hội:
Góp phần bảo tồn phát huy các giá trị văn
hóa các dân tộc; tạo thêm nhiều việc làm, góp
phần giảm nghèo vƣơn lên làm giàu; góp
phần nâng cao dân trí đời sống văn hoá tinh
thần cho nhân dân đặc biệt đồng bào các dân
tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa”[6], các dân
tộc thiểu số, trong đó dân tộc Kháng hoàn
toàn hội để thoát nghèo bảo tồn nền
văn hóa dân tộc mình.
thể nói, trong bối cảnh chính sách dân
tộc cho cộng đồng ngƣời Kháng từ trƣớc đến
nay chƣa thực sự hiệu quả, cuộc sống ngƣời
dân còn nhiều khó khăn, họ còn tâm trông
chờ sự giúp đỡ của Nhà nƣớc, khả năng hòa
nhập hội chƣa cao. Việc tôn vinh những giá
trị văn hóa của dân tộc họ một “cú huých”
giúp họ nhận ra năng lực bản thân, niềm tự hào
và trách nhiệm bảo tồn nền văn hóa của dân tộc
mình, vừa tạo sinh kế cho họ hoạt động trong
lĩnh vực du lịch. thế, giải quyết tốt mối quan
hệ giữa du lịch với tiềm năng văn hóa dân tộc
Kháng sẽ đem lại lợi ích chung cho du lịch
cộng đồng. Qua tìm hiểu thực tế, lễ hội
Pang Á của ngƣời Kháng, ở xã Chiềng Ơn đƣợc
tổ chức hàng năm hoặc 2-3 năm/lần, đƣợc duy
trì theo lối truyền thống. Các điệu múa cổ của
ngƣời Kháng nhƣ múa Tăng bu, múa khăn, múa
kiếm, múa phồn thực... hay các điệu múa trong
nghi lễ phỏng chữa các loại bệnh tật, về sản
xuất nông nghiệp, săn bắt, hái lƣợm, bảo vệ
mùa màng, bảo vệ thiên nhiên, cầu mùa… đƣợc
ngành văn hóa Sơn La chú trọng, bảo tồn theo
hƣớng xây dựng một nền tảng văn hóa truyền
thống các dân tộc bản địa - ý nghĩa tích cực
để phát triển các sản phẩm du lịch mới, du lịch
văn hóa giúp thu hút du khách, giới thiệu về
vùng đất, con ngƣời nền văn hóa đa dạng
ISSN: 2354 -1091 Journal of Science Tay Bac University (JTBU) https://sj.utb.edu.vn
43
của huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La với bạn
trong và ngoài nƣớc.
2.3. Gii pháp bo tn, phát huy giá tr văn
hóa dân tc Kháng Chiềng Ơn gắn v i
phát trin du lch
Vì du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp,
tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao và
nội dung văn hóa sâu sắc; khả năng đóng
góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc
làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực
cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển, đem lại
hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, hội,
chính trị, đối ngoại an ninh, quốc phòng,
ngay từ năm 2001, theo quyết định số
103/2001/QĐ-UB của UBND tỉnh Sơn La về
việc quy hoạch tổng thể phát triển thƣơng mại
du lịch Sơn La thời kỳ 2001 - 2010 đã chỉ
rõ: Phát triển du lịch nhằm phát huy, bồi đắp
truyền thống lâu đời bản sắc tốt đẹp của nền
văn hóa các dân tộc. Ban Chấp hành đảng bộ
tỉnh đã ban hành Đề án “Phát triển du lịch tỉnh
Sơn La đến năm 2025, định hƣớng đến năm
2030”; Đề án “Định hƣớng phát triển Vùng
lòng hồ thủy điện Sơn La trở thành Khu du lịch
quốc gia, giai đoạn 2022 - 2030; Đề án “Phát
triển du lịch huyện Quỳnh Nhai trở thành Khu
du lịch cấp tỉnh giai đoạn 2021 2030”; Theo
đó, huyện Quỳnh Nhai với tiềm năng phát triển
du lịch nổi bật, gắn với lòng hồ sông Đà sơn
thủy hữu tình vùng núi cao trùng điệp, hệ
thống hang động còn nguyên ẩn hấp dẫn,
đã đang thu hút đƣợc một số nhà đầu tƣ,
trong đó vùng hồ huyện Quỳnh Nhai là phần lõi
nhiều hòn đảo, nhiều vịnh phong cảnh
thiên nhiên đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc đậm
đà, nhiều lễ hội truyền thống di sản quốc gia
đƣợc xác định một trong những khu du lịch
trọng điểm của tỉnh. Hiện thực hóa mục tiêu
trên, tỉnh Sơn La huyện Quỳnh Nhai đã,
đang triển khai đồng bộ các giải pháp, soát,
điều chỉnh, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính
sách khuyến khích, thu hút đầu tƣ, tạo sản
phẩm du lịch độc đáo, khác biệt. Huyện đã xây
dựng, hoàn thiện Đề án phát triển ngành kinh tế
du lịch huyện Quỳnh Nhai giai đoạn 2022-
2025. Đồng thời, cam kết tạo môi trƣờng thuận
lợi thu hút nhà đầu tiềm lực xây dựng kết
cấu hạ tầng phát triển ngành du lịch của huyện.
Lấy du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch
trải nghiệm, mạo hiểm du lịch văn hóa m
linh làm nòng cốt cho phát triển hoạt động du
lịch. Bên cạnh đó, huyện Quỳnh Nhai cũng
đang huy động mọi nguồn lực cho việc đầu
xây dựng, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa,
danh lam thắng cảnh; các giá trị văn hóa vật
thể, phi vật thể truyền thống quý báu của nhân
dân các dân tộc trên địa bàn để bảo tồn phát
triển các sản phẩm du lịch mang bản sắc riêng
của huyện, giảm nhẹ tính mùa vụ của du lịch.
Huyện cũng đặt mục tiêu đến năm 2025, xây
dựng từ 2-3 sản phẩm du lịch độc đáo, khác
biệt, chuyên nghiệp, phong phú, hấp dẫn, thu
hút phát triển bền vững, thúc đẩy sự tăng
trƣởng khách du lịch quốc tế và nội địa.
Những định hƣớng chiến lƣợc phát triển du
lịch bền vững những chế, chính sách của
tỉnh thu hút đầu cho du lịch sẽ đòn bẩy để
du lịch Quỳnh Nhai bứt phá trở thành khu du
lịch trọng điểm của tỉnh. Để những di sản văn
hóa của 12 dân tộc tỉnh Sơn La nói chung, dân
tộc Kháng nói riêng trở thành “tài sản” góp
phần tạo ra những loại hình du lịch mới, hấp
dẫn trên nền tảng văn hóa truyền thống, cần
những giải pháp toàn diện để nhà nƣớc nhân
dân cùng góp sức trong việc thúc đẩy du lịch
địa phƣơng phát triển. Theo đó, cần thực hiện
một số giải pháp:
Th nht: Tỉnh Sơn La cn ch đạo các
quan chuyên môn, chính quyn các cấp đẩy
mnh hoạt động bo tn, phát huy bn sắc văn
hóa dân tc bng cách gn vi xây dng
chƣơng trình, kế hoch phát trin kinh tế, phát
trin du lch cộng đồng. Trong điu kin ngân
sách nhà nƣớc còn hn chế, vic bo tồn văn
hóa dân tc Kháng cn da trên vic khai thác
giá tr ca nền văn hóa cộng đồng ngƣời
Kháng. Nghĩa là, chính quyền ngƣời dân
cùng n lc to dng nhng sn phm du lch,
khai thác tiềm năng vốn để ci thin thu
nhập cho ngƣời dân t du lch chính li
nhun t du lch s h tr ngƣời dân trong vic
bo tn, phát huy nhng giá tr văn hóa.
Thứ hai: Cần sự quan tâm đúng mức về
đầu tƣ, hỗ trợ của các cấp chính quyền đối với
loại hình du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm,
du lịch cộng đồng những vùng dân tộc
Kháng sinh sống. Đặc biệt chú trọng đầu cải
thiện hệ thống giao thông để du khách di
chuyển tới những bản ngƣời Kháng một cách
dễ dàng, thuận tiện. Hầu hết những bản ngƣời
Kháng sinh sống hiện nay Chiềng Ơn đều
gần các điểm du lịch (điểm du lịch tâm linh
Đền thờ Linh Sơn - Thủy Từ Nàng Han,
Vịnh Bình Yên, Vịnh Uy Phong, Đảo Trái tim,
Cây cầu Uôn...) của lòng hồ thủy điện sông
Đà, của huyện Quỳnh Nhai, thế việc thiết kế
tour, tuyến du lịch thể lồng ghép nội dung
trải nghiệm văn hóa dân tộc Kháng, tạo hội
cho ngƣời Kháng đƣợc tham gia vào chuỗi giá
trị du lịch.
Thứ ba: Cần tuyên truyền, vận động, giáo
dc, nâng cao nhn thức cũng nhƣ trách nhim
ca ngƣời Kháng để họ hiểu mục đích của