Cảm lạnh – bệnh nhiễm trùng đường hô
hấp thường gặp
1. Giới thiệu chung: Cảm hay cảm lạnh là một trong những nhóm bệnh
nhiễm trùng đường hấp trên do virus gây ra, tính lây lan cao. Thường gặp
nhất là hai nhóm virus: Picornavirus (bao gồm Rhinovirus) và Coronavirus.
2. Dịch tễ
Nhiễm trùng đường hấp trên loi nhiễm trùng phbiến nhất người
lớn và tr em. Trung bình, người lớn thường bcảm 3 lần/năm nhưng cũng không
phải bất thường nếu ai đó bị 6 lần. Tỉ lệ mắc bệnh cảm cao nhất là em và tr
đang tập đi vì hmiễn dịch của chúng chưa phát triển. Trẻ đi học thể nhiễm
cảm cả chục lần trong m. Con số này s giảm theo độ tuổi. Những người hệ
miễn dịch tốt đối với nhiều loại virus thể chỉ bị cảm 1-2 lần hoặc thậm chí
không bị.
Virus nào cũng đều hoạt động quanh m, nhưng phần đông chúng ta bị
nhiễm cảm vào mùa thu mùa đông (khoảng 60%). Có lẽ vì vào mùa thu và mùa
đông, cũng là mùa trem đi học, thời tiết làm người ta trong nhà nhiu n
tiếp xúc với người khác gần hơn, nên khả năng lây lan virus tăng lên.
3. Tác nhân gây bệnh
Cảm lạnh thường do một trong 100 loại virus thuộc nhóm Rhinovirus (một
loại của Picornavirus) gây ra. Ngoài ra còn có các loại virus khác như
Coronavirus, virus á cúm, adenovirus, enterovirus…Do đó, không th miễn
nhiễm với bệnh cảm, nghĩa là người bệnh cảm rồi vẫn có thể mắc lại.
- Virus lây truyn từ người qua người bằng một trong 2 cách:
+ Khi người bệnh ho hay hắt hơi
+ Tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với nước bọt hoặc dịch tiết của người
bệnh.
4. Triệu chứng
Thông thường, triệu chứng xuất hiện sau 2 đến 5 ngày tiếp xúc với virus, cá
biệt trường hợp khởi phát sau 10 giờ. Biểu hiện đầu tiên của cm thường chỉ là
đau hay rát họng. Các triệu chứng thường gặp khác là chảy mũi, nghẹt mũi, ho
hoặc hắt hơi. Những triệu chứng này thường đi kèm với đau , mỏi mệt, nhức
mỏi, khó chịu, nhức đầu, chán ăn. Cảm lạnh đôi khi làm sốt, nếu sốt cao thể
làm người bệnh kiệt sức (thường gặp bệnh cúm hơn). Những triệu chứng của
cảm lạnh thường mất đi sau 1 tuần, nhưng cũng khi kéo dài đến 14 ngày, trong
đó ho thường kéo dài hơn các triệu chứng khác. Trẻ em thường những triệu
chứng nặng hơn, và có thể gặp sốt, phát ban.
5. Biến chứng
- Cảm lạnh có thể dẫn đến nhiễm trùng cơ hội như viêm phế quản cấp, viêm
phổi cấp, viêm xoang, viêm tai giữa…Với những người hen suyễn, khí phế thủng,
viêm phế quản mãn thì cm lạnh thể làm khởi phát những cơn kịch phát cấp
tính.
- Cần phân biệt bệnh cảm lạnh với bệnh cảm cúm. Bệnh m khác xa với
cảm, mặc dù cả hai giống nhau ở giai đoạn đầu - đều gây đau cổ họng, tứ chi ê m
và nhức đầu. Tuy nhiên, cảm ít gây sốt và hiếm khi làm thân nhiệt cao hơn 38,8 độ
C, trong khi cúm có thlàm thân nhiệt bạn lên trên 39,4 độ C.
- Một điểm khác nhau nữa là khi bcảm, bạn th chảy nước mắt, còn
cúm m mắt bạn bị đau (đồng thời với đau lưng tứ chi). Bệnh cúm thường lâu
hết gấp đôi so với cảm. Cúm còn dẫn đến viêm phổi, gây nguy hiểm nặng cho sức
khỏe của những người trẻ tuổi hoặc người cao tuổi, cũng như người bệnh tim,
ngực, hệ miễn dịch và rối loạn chức năng thận.
6. Phòng ngừa
Cách phòng bệnh tốt nhất là tránh tiếp xúc gần với người bệnh, rửa tay kỹ
thường xuyên; và tránh chm mặt và miệng. Xà phòng diệt khuẩn thì không
tác dụng với virus cảm, tuy nhiên những động tác cọ rửa sẽ giúp tẩy đi các virus.
Tác nhân gây bệnh cảm lạnh là hàng trăm loại virus nên hiện chưa vaccine
phòng bệnh cảm. Theo kinh nghiệm dân gian, cũng nên phòng ngừa cảm lạnh
bằng cách giữ m và hin nay cũng đã một số nghiên cứu nhỏ ủng hquan
điểm này.
7. Điều trị
Cho đến nay, chưa thuốc kháng sinh hay kháng virus nào tra hiệu quả
với bệnh cảm. Tất cả những điều trị trong bệnh cảm chỉ là điều trị triệu chứng,
giúp cho người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn trong giai đoạn nặng của bệnh. Thông
thường, bệnh sẽ nặng nhất vào các ngày th2-3 của bệnh, sau đó các triệu chứng
slui dần. Do đó, các thuốc điều trị trong cảm m nên được cho càng sm càng
tốt. Hơn nữa, việc dùng thuốc sớm thể hạn chế được những biến chứng như
viêm xoang, viêm tai giữa của bệnh chưa được chứng minh bởi các công trình
nghiên cứu lớn.
Các thuốc an toàn và hiệu quả
a. Kháng histamine H1: Kháng histamine H1 công dụng ngăn chặn
hoạt động của Histamine trong thể, chúng gây tiết nhiều nước mũi, nước mắt,
phong ngứa. Các loại thuốc kháng H1 đã được chứng minh có hiệu quả trong bệnh
cảm là Chlorpheniramine, Brompheniramine, Clemastine. Tác dụng ph của
thuốc thể gặp dù hiếm là: buồn ngủ, khó tiểu những người phì đại tiền liệt
tuyến, làm nặng thêm tình trng tăng nhãn áp.
b. Kháng viêm không steroid (NSAIDs): Kháng viêm không steroid đã
được sử dụng nhiều để điều trị triệu chứng bệnh cảm như: sốt, lạnh, đau cơ, và mệt
mỏi trong cảm lạnh. Hoạt động của kháng viêm không steroid là thông qua việc ức
chế sản xuất hóa chất trung gian của phản ng viêm prostaglandins. Một số
thuốc thường được sử dụng là Ibuprofen Naproxen. Tuy nhiên chưa nhiều
nghiên cứu lớn v việc sử dụng NSAIDs trong bệnh cảm. Tác dụng phụ quan
trọng của NSAIDs là khó chịu đường tiêu hóa, một số người thể gây loét và
xuất huyết đường tiêu hóa.