1
A/- Nhng cảm nghĩ về giá trị n hóa lịch sử Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh Cù
Lao Phố, nay thuộc xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai.
Vùng đất Trấn Biên xưa, ngày nay là Biên Hòa - Đồng Nai có lịch sử hình thành phát
triển hơn 300 năm gắn liền với sthăng trầm của các triều đại phong kiến cùng với các
biến cố chính trvăn hóa quan trọng tạo nên nét đặc thù cho một đô thị phương Nam.
Trong những nhân vật đã góp phần hình thành nn tảng ban đầu của chủ quyền lãnh
thổ, thiết chế n hoá xã hi cho Biên Hòa - Đồng Nai vào cuối thế kXVII có một
nhân vật mà ng đức của Ông vn còn ghi đậm trong ức của người n phương
Nam, đó chính Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh.
Người n Trấn Biên xưa, Biên Hòa - Đồng Nai nay dựng Đình Bình Kính để tri ân và
tưởng nhÔng, một vị Tin hiền đã khai mnghiệp phía Nam cho Đại Việt n
300 trăm năm qua, nhiu thế hệ con n đã tiếp nối cơ nghiệp to lớn của Ông, phát trin
vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai ngày một sung túc, thịnh vượng và vững mạnh.
Ngược dòng lch sử, cùng những nhóm cư n được cho là bn địa vùng đất phương
Nam như Chơro, Mạ, S’tiêng, Kơho, Khơme … người Việt đã đến vùng đất Biên a -
Đồng Nai từ rất sớm, có thvào khong thế kXVI. Trong q trình khẩn hoang lập
nghiệp trên vùng đất mới, họ từng bước khẳng định sự tồn tại của cộng đồng bằng việc
xây dng mt cuộc sng n định. Vđời sống tinh thần, người Việt hình thành những
sở tín ngưng để gn kết cộng đồng và thỏa mãn nhu cu m linh. c ban đầu,
những cơ sở tín ngưỡng được dng lên với quy nhỏ, bằng những vật liệu vốn sẵn có
tại chỗ như tre, lá, y gỗ. Vsau, trong quá trình phát triển, những cơ sở tín ngưỡng
được nâng cấp lên cquy lẫn hình thức do slớn mnh của chính cộng đồng n cư
cư trú tại chỗ.
thnói, đình làng một dấu n xác đnh sự hình thành của cng đồng xã tộc người
Việt trên vùng đất mới khi chưa squản của nhà nước. Những người di n tự do
đến vùng đất mới gắn kết nhau trong làng xã qua hình thức cộng đồng chung trong tín
ngưỡng thờ phượng mà ngôi đình i tiêu biểu nhất. Trải qua nhiều thời kỳ, qua bao
ln thay đổi v địa hành chính hay tác động của xã hi nhưng ngôi đình vẫn tồn tại.
minh chứng cho sức sống mãnh liệt không chỉ về mặt m linh mà n sgắn kết
đời sống vật chất” của người Việt. Vì vậy thể i, những giá trị di sn vật thể, phi
vật thể đều n chứa trong những di tích đình làng một ch sinh động. Thông thường,
mỗi làng người Việt đều một ngôi đình. Người xưa chọn đất dựng đình th thần
nhm thỏa mãn nhu cu m linh ng nhưng cũng chính ước vọng sự sung túc,
thịnh vượng ca c cộng đồng. Ngôi đình thường được y dựng trên nhng khu đất có
long mạch quý, phong cảnh minh quang tỏa xuất c hướng theo quan nim v thuật
phong thủy a.
Những ngôi đình Đồng Nai thường bắt ngun từ các miếu, đền. Ban đầu, thể một
slàng n cn cùng chung dng một ngôi đình. Sau này, vmặt pn chia hành chính,
những làng rng lớn trước kia đông n cư, phát triển thì được chia ra nhiều làng thôn
khác. Ngoài ra, những ngôi đình mới được dựng lên theo cng đng n cư mới thành
lập hoặc theo địa quy định. Slượng các ngôi đình vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai
ngày càng nhiu lên theo sphát triển của cộng đồng dân cư. n gọi của các ngôi đình
2
gắn liền với tên gọi của làng xã. Mặc dầu cho đến nay, nhiều địa bàn sthay đổi về
tên gọi, vùng nông thôn a giờ lên phố thị nhưng thường các ngôi đình vn giữ nguyên
tên trong cách gọi dân gian.
Phn ln những ngôi đình Biên Hòa - Đồng Nai được xây dựng theo kiểu thức kiến
trúc nhà ttrụ. Đây là kiểu thức nhà rường nhưng gian trung m gồm 4 cột i bố trí
cách đều; từ bốn cột cái, cáco đấm, kèo quyết đưa ra bốn hướng nhau tạo không gian
vuông vức. Đây chính là không gian thiêng, trungm cho việc thờ tự chính trong đình.
Ngoài chánh điện, tùy nơi mà ngôi đình có nhà Võ, nhà hội, nhà trù. Thông thưng, trên
khu đất rộng thì ngôi đình btrí theo thứ tự cổng đình, bình phong, nhà Võ, chánh điện,
nhà hội, nhà trù. Tuy nhiên, do phthuộc vào nhiều yếu tố, nhiều ngôi đình Biên Hòa
- Đồng Nai không theo thứ tự này hoặc không có những nếp nhà ngoài khu chánh điện.
Tùy i quy các nếp nhà, vật liệu xây dựng, n tạo khác nhau nhưng bản
chánh điện những ngôi đình vẫn giữ được dạng kiến trúc truyền thống này.
Đối tượng thờ cúng chính trong các ngôi đình Biên Hòa - Đồng Nai là Thần Thành
Hoàng. Đây là vị thần linh được xem là bảo hộ của thôn ng. Thường khu chánh
điện, gian thờ trung m, thần được thvới biểu tự chữ Hán (đại t) thếp vàng. một
sđình thnhân thần thì tượng thờ. Có thể trước đó chưa có, sau nầy, tưởng nhớ
công đức của những người có công giúp dân của làng xã, xứ sở nên dân làng tôn thhọ,
tôn hthành phúc thần. Nđình MKhánh thờ Nguyễn Tri Phương, đình Bình Kính
th Nguyễn Hữu Cảnh, đình Tân Lân th Trần Thượng Xuyên, đình Tam Hiệp thờ
Đoàn n Cự… Đây là những người được xem là anh hùng của vùng đt Biên Hòa -
Đồng Nai, đã nhiều ng lao giúp cho người dân Biên Hòa - Đồng Nai nói riêng hay
Nam Bnói chung khai khẩn, đánh giặc, mmang làng xã.
Đình Bình Kính,n gọi là Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, di tích lch sử tồn tại hơn ba thế
kHiệp Hòa, thành phBiên Hòa. Đình tọa lạc trên diện tích đất rng, bên tcủa
nhánh ng ôm trn Cù lao Phố, dưới chân cầu Ghềnh, mặt tiền nhìn vhướng y
Nam, soi bóng xuống dòng nước Đồng Nai trong xanh, hiền hòa.
Ngôi đền được dựng vào m nào, ngày nay chưa i liu nào đề cập cthể. Có l,
sau khi Nguyễn Hữu Cnh mất, người n thôn Bình Hoành cm nhớ vị công thần của
đất nước có công lớn đối vi vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai nên mi dựng ngôi đền
thờ. Ban đầu, ngôi đền nhỏ, được làm tvách ván, i lợp ngói âm dương. Sách Gia
Định thành thông chí có ghi chép về di tích với tên gi là đền Lễ Công như sau:
“... ở phía nam Cù Lao Phố, thôn Bình Hoành, huyện Phước Chánh, thờ khai quốc công
thần Tráng Hoàn hầu Nguyễn Hữu Kính (Cảnh). Đền trông ra sông Phước Giang, lấy
đá ngầm làm thủy thành, ới có chép lạ, lớn 6,7 thước, cứ đêm khuya tĩnh mịch,
thường ớng vào đền, quãy nhảy dưới sông bơi lội ngược xuôi, như hình múa lạy. Sau
qua loạn Tây Sơn,ơng tàn khói lạnh.
Đến đời Trung hưng, cấp cho 10 người từ phu, hàng năm cho tiền công tế vào mùa
xuân, cầu đảo thường linh ng; năm Tự Đức thứ tư, quan tỉnh tâu rằng đền lâu ngày
mục nát, lại bnước xói, phụng mệnh cấp cho 400 quan tiền giao dân sở tại mua vật
liệu, dựng lại đền ở sau cách 10 trượng...
3
liệu trên cho thy, thời bấy giờ đền Lễ Công một vị trí quan trọng trong đời sng
tinh thần của ngườin Biên Hòa - Đồng Nai. Kiến trúc ban đầu của đền không còn lưu
giđược do sự hủy hoại của tự nhiên. Năm 1851, đền được xây lại và cách v trí cũ
khoảng 400 mét. n 100 năm sau, đền được tu sửa bao nhiêu lần không ai rõ. Năm
1960, Ban qtế đền đng ra chủ trì vic trùng tu. Trước chánh điện mthêm hành
lang rng 2 mét, các cột chính được đắp rồng, các cửa gdược thay bằng cửa sắt o,
mái lợp ngói âm dương thay cho loi vảy cá trước đây. Di tích còn gilại ngày m
nay li kiến trúc tương đối hiện đại, các nét xưa còn li ít, có chăng là nội thất
trong các trang trí hoa văn, đồ thờ.
Di tích đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh xây theo dạng chữ Đinh, mặt tin hướng ra ng
Đồng Nai, phía y Nam. Cnh điện đền hình vuông, tường gạch trát đá rửa, bốn i
lợp ngói vẩy cá, nền lát gạch tàu. Phía trước mái đền gắn đôi rồng chầu pháp lam bằng
gm men xanh, đối xứng hai bên cặp lân. Hàng cột hành lang mt trước được đp
trang thình nh rồng cuộn, chầu đối nhau bằng chất liệu xi ng, sơn phết rực rỡ. T
ngoài vào theo li chính ba cửa. Hai bên cửa khắc chìm hàng chHán vi ni
dung nói v đền thờ Bình Kính,ng lao của Nguyễn Hữu Cảnh với vùng đất Biên Hòa
- Đồng Nai.
Nội điện ba hàng cột glớn. Trên c cột đều có treo liễn đi. Các hoành phi th
hiện dưới dạng đại tchữ n, liễn đối được trang trí hoa văn n son thếp vàng vn
gitươi màu dù đã trải qua nhiều năm tháng. Dưới những hoành phi những bao lam
gỗ được chạm trổ các đề i lưỡng long chầu nhựt, hoa chim sơn kim nhũ óng ánh. Gian
giữa chánh điện thờ thần, hai bên thtả ban, hữu ban lit vị. Một góc bên bàn thcó t
kiếng giữ bộ áo mão tương truyền là của Đức Ông Nguyễn Hữu Cảnh thuở sinh thời.
Trước bàn thờ thần là bàn La lit, bàn thHội đồng, xung quanh đắp nổi bộ tứ linh và
trên đôi hạc lưỡng long. Gian giữa bày hai hàng bát bu bằng đồng. Dọc theo b
tường hai bên bốn bệ bằng xi ng thờ c bậc Tiền hiền, Hậu hiền, Thế hiền và
Thánh nương mẫu.
Điểm nổi bật trong nội điện vđiêu khắc gỗ là các hương án được thực hiện ng phu
của các nghnhân khi thhiện c đề tài rồng chầu, tứ linh, muông thú, hoa ... rất
tinh vi, sc sảo. Phía sau chánh điện là khu nhà khách, nhà bếp và nhà kho.
Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh là mt trong sít những di tích Biên Hòa n lưu gi
được sắc thần, trong đó ghi rõ tên họ, chức tước vinh hiển, thứ bậc Thượng đẳng thần
của vua ban phong cho Nguyễn Hữu Cảnh.
V khai quốc công thần, Thượng đẳng thần, Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu
Cảnh sinh m Canh Dần (1650) tại Xã Chương Tín, huyện Phong Lộc nay là Vn
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, n ông còn được đọc trại là Nguyn Hữu
Kính; trong tộc họ Ông còn có tên là Lễ bởi vậy nên có tước là Lễ Thành Hầu.
Ông mt kiệt tướng đời chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (Hiến ng Hiếu Minh Hoàng
đế, 1691-1725). Nguyn Hữu Cnh là hậu duệ 19 đời của Khởi tổ Nguyễn Bặc; hậu duệ
9 đời của Hậu tNguyễn Trãi; cháu ng h7 đời của tổ Nguyễn NTrác; cháu ng
hệ 5 đời của Nguyễn Kim; cu nội của Triều Văn Hầu Nguyễn Triều Văn; con trai thứ
3 của Chiêu Vũ Hầu Nguyn Hữu Dật; em ruột của Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào.
4
L Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh lớn lên trong một gia đình c ba cha con đều là
những vị tướng công lao to ln trong việc phò các chúa Nguyễn giữ vững và pt
triển phía Đàng Trong.
Xuất thân trong một gia đình tướng, am tường quốc sự, lại được chứng kiến bao
cảnh truân chuyên của xã hội đương thời, Ông đã sm dấn thân vào cuộc chiến. Nguyễn
Hữu Cnh đã phụng mng cầm quân thống binh” ng pha trận mạc tuổi đời chưa
quá 22 (1650-1972) để phò chúa an n giyên bcõi. Được chúa Nguyễn Phúc Chu
tin cn, Nguyễn Hữu Cảnh với tài thao lược, trí thông minh và bn lĩnh hơn người, đã
lập nhiều chiến công hin hách.
Vào nhng m 1690-1691, lúc này người nối ngôi vua Cm Pa Kế Bà Tranh, ý
mun giành git, bbang giao đem quân Chiêm Thành qua sát biên gii t hại cư dân
Ph Diên Ninh (Diên Khánh), quấy nhiu biên gii Đại Việt. Đầu m 1692, chúa
Nguyễn phái Nguyễn Hữu Cnh làm thống binh cùng với tham mưu Nguyễn Đình
Quang đem quân đi bình định biên cương. Xuân Quý Du (1693) Nguyễn Hữu Cảnh đã
thành ng trong vic dẹp giặc Chiêm Thành bờ cõi pa Nam, sát nhập toàn bcác
phần đất của Chiêm Thành vào Đàng Trong. Vùng đất mi đã bình yên, Thống suất
Nguyễn Hữu Cnh tuân lệnh chúa lập ra Trn Thuận Thành mà ngày nay vùng đất
của hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận; tháng 8 m y đổi làm phBình Thun. Vi
công lao đó, Nguyn Hữu Cảnh đã đưa về cho Chúa Nguyễn mt vùng đất rộng ln,
kéo dài tKhánh Hòa vào đến hết tỉnh Bình Thun ngày nay.
Tháng 7-1693 ông trvề PXuân. Tại đây, chính ông đã xin chúa Nguyn Phúc Chu
tchức chiêu mn nghèo khắp xứ Thuận - Qung để đưa vào Nam cùng với một s
nhân vật nỗi tiếng khác như: Nguyễn Tri Thắng, Nguyễn Tấn Lễ, Chu Kiêm L...
Tháng 2 năm Mu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu cLễ Thành hu Nguyễn Hu
Cảnh m kinh lược sứ với smạng là thống suất Kinh Lược. Ngược dòng ng Đng
Nai, đầu tiên ông quyết định cho đoàn chiến thuyền cặp bờ đóng bản doanh tại Cù
Lao Phố (Đồng Nai) để quan sát định vùng an dân. Bằng sự nhận xét thần tốc về mọi
mặt: đất đai hoang phế mênh mông nhưng toàn sình ly cùng rng rậm; nhân lực thì
yếu m, đời sống sinh hoạt của các sắc dân qthô thiển thật là thiên nan vn nan!
Nhưng với ý cquả cảm, bất kể nguy k hiểm nghèo L Thành Hu Nguyễn Hữu
Cảnh vạch ra kế sách toàn din, cấp tốc: Khai hoang m cõi và dàn xếp biên cương.
Song song vi việc khẩn hoang, thống suất Nguyễn Hữu Cnh thi hành ngay việc chia
đất định vùng, đưa dần dân chúng vào nếp an cư lạc nghiệp.
Ông đã lấy toàn bvùng đất Đông Nam bộ ngày nay về cho Chúa Nguyễn. Thực ra đây
là vùng đất chủ nhưng lại rất vắng ng người và chính quyn Thủy Chân Lp chưa
bao giờ thực sự quản lý được, cũng chưa bao giờ nắm vững được những gì liên quan ti
toàn bvùng đất miền Đông Nam bộ. Với sự kiện này, Nguyễn Hữu Cnh đã đem về
cho đất nước mt vùng đất rộng ln, từ Bà Rịa - Vũng u cho đến tỉnh Tiền Giang
hiện nay. Đây là một vùng đất trù phú, đặc biệt quan trọng mà Nguyn Hữu Cảnh đã
đem về cho đất nước.
Vhành chính, theo Gia Định thành tng ccủa Trịnh Hoài Đức, ông chia đất Đông
Phố: Lấy xứ Đồng Nai làm huyn Phước Long, dựng dinh Trn Biên (Biên Hoà); Lập
5
xSài n làm huyện n Bình, dựng dinh Phiên Trn (Sài n y giờ). Mỗi trấn
lưu thủ đng đầu qun trị, dưới có cai bạc coi về ngân khố, lục coi vhành án. Tt
cđều trực thuộc phủ Gia Đnh. Trấn Biên bao gm tBình Thuận đến Nhà Bè. Phiên
Trấn bao gồm từ Tân Bình đến Cần Giuộc (Long An).
PhGia Định ngày đó gồm từ Bình Thun, Sài n, Đồng Nai, N đến Long An.
Khi đó địa bàn Đồng Nai Gia Định được nới rng thêm ra hàng ngàn dm vuông, các
chủng n được quy tdựng thành chòm m. n scó đến 40.000 hộ. Nhà cửa bắt
đầu mọc lên sm uất. Lin đó, Thống suất Lễ Thành Hu Nguyễn Hu Cảnh vạch ra
quy hoạch: Thiết lập làng xã, km p; Lp sổ đinh, sổ điền; Định mức tượng trưng về
thuế tô, thuế dung.
Riêng người Hoa tập trung làm hai để việc thương mi cơ hội nh trướng đều
khắp: Xã Thanh huyn Phước Long (Biên Hòa, Đồng Nai); Xã Minh ơng
huyện Tân Bình (Sài n, Bến Nghé). Tất cả n sngười Hoa cũng đều nhập sổ bộ
Đại Việt.
Về thương mại, ông cho lập đường thủy ven các nhánh sông, lấy khu chợ nổi Nhà Bè c
nơi ngã ba sông Bình Dương làm trung tâm giao dịch, thương u với các ngã: Cù Lao
Phố, Bến Nghé, Cần Giờ, Rạch Cát, Vũng Cù (Cn Giuộc) và Vấp. Nguyn Hữu
Cảnh tiếp tục mua n, trao đổi hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài nhđó mà
nền kinh tế Trấn Biên Phiên Trấn n định cuộc sng người dân sung túc. Đặc biệt
bến tàu Châu Đại Phố của nhóm Hoa thương nhem nhúm còn quá lum thuộm, giờ đây
cũng được khuyến khích cho qui cũ, đi li dễ dàng, thuyn bè vào ra tấp nập. Vtrí
này sau đã nhanh chóng thành n Cảng Đại Phố. Đây chính là bến cảng non trẻ nht
của miền này cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18.
Vquân sự, đã sẵn một lực lượng binh chủng gồm thủy binh, bộ binh, tinh binh và
thuộc binh. Thống suất cho cắt đặt các cơ đội canh phòng yên n thôn trang và qn
lính c hai dinh lo bảo vệ chủ quyền tại suốt vùng đất mới thành lập.
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử i trên, Nguyễn Hữu Cnh thuộc lớp người đầu tiên khai
cơ, người đầu tiên b trí h thống N nước trên miền đất mới. Học giả Trần Bạch
Đằng đã viết “ý nghĩa quan trọng nhất của việc làm nàyở chỗ dân lưu tán được thừa
nhận là công dân của nước Việt Nam, ruộng đất khai hoang được vào s bộ chính thức,
làng mạc được bảo vệ như mọi làng mạc khác của Việt Nam. Sự xác lập cương việt
quốc gia đã tránh ít nhất về mặt pháp những mối đe dọa từ bên kia biên giới. Cho
nên dân khai hoang coi ông như người đại diện của tổ quốc. Ông thoả mãn cyêu cầu
quyền lợi và nh cảm của dân lưu n. thnói ý thức quốc gia, ý thức dân tộc của
dân lưu tán đã tôn vinh Nguyễn Hữu Cảnh. Thời gian 3 m là s kết đọng một nguyn
vọng đã xuất hiện và nung nấu nhiều trăm năm”.
Dù thời gian chuyến kinh lược ngắn nhưng Nguyễn Hữu Cảnh đã thực hiện những công
việc quan trng và có ý nghĩa lớn đối với việc khai khn vùng đất Nam Bộ. Tmột
vùng lưu n tự pt, đưc chúa Nguyễn đồng ý, Nguyễn Hữu Cnh đã tchức một
cuộc di n lớn nhất trong lịch sử, đưa n từ Bố Chính (Quảng Bình), Quảng Trị,
Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi (Ngũ Quảng) vào khai pvùng đất hoang vu để
có Nam btrù pnhư ngày nay.