TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC
CÂU 1 : Giáo dục có nguồn gốc từ đâu? Trình bày đặc điểm của giáo dục trong xã
hội công xã nguyên thủy
Nguồn gốc giáo dục: Ngay từ khi con người xuất hiện, để tồn tại con người phải lao
động. Trong lao động và trong cuộc sống hàng này con người nhận thức thế giới xung
quanh, dần dần tích luỹ được nhiều kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động và chinh
phục thiên nhiên, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau. Đó
chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục. Thế hệ trước truyền cho thế hệ sau
những kinh nghiệm, thế hệ sau sử dụng những kinh nghiệm này để lao động sản xuất,
chinh phục tự nhiên, đấu tranh xã hội, tham gia vào đời sống.
Đặc điểm của giáo dục trong xã hội công xã nguyên thủy:
- Giáo dục tự nhiên, tức là sự truyền thụ trực tiếp những kinh nghiệm trong quá
trình lao động sản xuất và trong sinh hoạt cộng đồng
- Chưa có chữ viết , chưa có nhà trường, chưa có người thầy giáo chuyên biệt làm
công tác giáo dục
- Trong xã hội công xã nguyên thủy có một thời kì dài tồn tại chế độ công xã thị tộc
mẫu hệ, người phụ nữ giữ vai trò trọng yếu trong đời sống kinh tế và đời sống thị
tộc họ giữ vai trò to lớn và quan trọng trong việc giáo dục và dạy dỗ trẻ em
- Năng suất lao động cao, của cải dư thừa, xuất hiện hiện tượng tư hữu, phân chia
giàu nghèo.. ra đời của giai cấp và nhà nước. Giai cấp quý tộc giàu có lập ra
trường học để dạy dỗ và giáo dục con em của mình. Kể từ đó giáo dục không còn
mang tính tự nhiên , bình đẳng như trước.
Chuyển biến từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nước – xã
hội chiếm hữu nô lệ.
CÂU 2: Trình bày quan điểm của Khổng Tử về vai trò của giáo dục
Giáo dục là nền tảng để hình thành nhân cách:
- Giáo dục có ý nghĩa phổ biến, giáo dục làm con người mở mang tri thức, hình
thành nhân cách đầy đủ ba mặt: nhân, trí, dũng. Ông đánh giá rất cao vai trò của
giáo dục. Giáo dục là con đường duy nhất, cần thiết đối với mọi người, giúp họ
hiểu được đạo lí sống trong trời đất – tức là cách cư xử với tự nhiên, xã hội và con
người.
- Nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc giúp con người trở thành người quân
tử, có đạo đức và hiểu biết để ứng xử tốt trong xã hội: Khổng Tử cho rằng nhờ có
học, cái đức sáng càng sáng thêm, người ta càng ngày càng mới hơn, đạt đến cõi
chí thiện mới thôi (Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí
thiện – Đại học).
-Như vậy, phải có giáo dục, nhờ có giáo dục mà mỗi con người không phân biệt
đẳng cấp mới phát triển được nhân cách tốt đẹp của mình: trong giáo dục không có
sự phân biệt về địa vị xã hội, giàu nghèo, bất kì ai mà có lòng ham học đều có thể
trở thành học trò của ông tư tưởng tiến bộ về giáo dục của ông trong thời đại
bấy giờ.
-Việc giáo dục còn là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của quốc gia, góp phần văn
minh, cường thịnh của dân tộc, những người nắm quyền chính trị, quản lí phải
quan tâm. Điều này có nghĩa là làm cho dân đông, dân giàu, dân được học tập là
ba mục tiêu cơ bản quyết định cho sự phát triển, cường thịnh của một dân tộc, một
quốc gia.
Đối tượng và mục đích:
Đối tượng: cần cho mọi người, cần đem văn hóa đến với mọi người không phân biệt
hạng vị người giàu, nghèo, sang, hèn trong xã hội
Mục đích: đào tạo con người trở thành người quân tử, đó là những người nhân nghĩa,
trung chính,hiểu được cái đạo của người quân tử vươn tới để bảo vệ trật tự xã hội
yên ổn, không rối ren, để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Nội dung giáo dục:
- Rèn luyện các phẩm chất cốt lõi: nhân lễ nghĩa trí tín
- Giáo dục về lễ nghi , truyền thống văn hóa, ứng xử trong gia đình và xã hội
- Phát triển trí tuệ thông qua việc học kinh điển, thơ ca, lịch sử
Phương pháp giáo dục:
- Pp thân giáo( giáo dục bằng gương mẫu)
- Pp giáo dục phù hợp với đối tượng
- Pp coi trọng thực hành, vận dụng
- Pp luyện tập, ôn tập
- Pp phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập
- Sự thống nhất giữa học và suy nghĩ
CÂU 3: Tư tưởng giáo dục của Arixtot ( Aristotle 384 – 322 TCN)
Mục đích giáo dục:
- Phát triển con người toàn diện về trí tuệ, đạo đức và thể chất
- Mục tiêu là giúp con người trở thành người hoàn thiện, sống hành phúc và có ích
Nội dung:
Arixtot để lại cho người đời sau nhiều quan điểm tiến bộ và khoa học. Ông cho rằng con
người được cấu thành bởi ba yếu tố: xương thịt, ý chí và lí trí. Do đó nội dung giáo dục
tương ứng : thể dục, đức dục, trí dục.
-Về giáo dục thể chất ( thể dục): rèn luyện sức khỏe, sự dẻo dai, tính kỉ luật và nền
tàng cho lao động cũng như chiến đấu Arixtot nhấn mạnh rằng thân thể khỏe
mạnh là điều kiện để lí trí hoạt động tốt. Tuy nhiên, ông cảnh báo không nên luyện
tập thể chất quá mức vì điều đó sẽ cản trở trí tuệ
-Về giáo dục đạo đức : hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như tiết đọ,
dũng cảm, công bằng, thành thật, khiêm tốn... Phương pháp: thông qua việc rèn
luyện thói quen tốt khi còn nhỏ, vì “ đức hạnh được hình thành từ hành động lặp đi
lặp lại” Đây là nền tàng giúp con người sống đúng đắn, có trách nhiệm với bản
thân và cộng đồng.
-Về giáo dục trí tuệ: phát triển năng lực tư duy, lý luận, hiểu biết về thế giới và các
nguyên lý nền tàng của cuộc sống. Có ba hình thức trí tuệ:
+ Trí tuệ lí thuyết: học các môn như triết học, toán học, vật lí... nhằm tìm hiểu
chân lí
+ Trí tuệ thực tiễn: học cách sống tốt , làm chủ hành vi ứng dụng trong đạo đức
và chính trị
+ Trí tuệ kĩ thuật: học các kỹ năng sáng tạo và lao động liên qua đến thủ công
và nghệ thuật
Đây là giai đoạn cao nhất, giúp con người hiểu bản chất của sự vật, tự kiểm
soát bản thân và hướng đến hạnh phúc đích thực.
Phương pháp giáo dục:
- Giáo dục phải phù hợp với độ tuổi và khả năng của từng người
- Chú trọng thực hành chứ không chỉ học lý thuyết
- Giáo dục phải cân bằng giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa học và làm
Arixtot là người đầu tiên đề xuất chương trình giáo dục chia thành 3 giai đoạn
chính:
-Thời kì từ lọt lòng đến 7 tuổi: giáo dục gia đình, hình thành thói quen tốt, kiểm
soát cảm xúc đặt nền móng đạo đức, nhân cách
-Thời kì từ 7 đến 14 tuổi: giáo dục thể chất, âm nhạc, thủ công, cảm thụ nghệ
thuật phát triển thân thể, cảm xúc, đạo đức
-Thời kì từ 14 đến 21 tuổi: giáo dục trí tuệ, đạo đức nâng cao, triết học, chính trị
phát triển lí trí thành người có đức và trí
- Ông nhấn mạnh đến tuổi 14 là thời điểm mà trẻ có những biến động lớn lao về tâm
sinh lí vì vậy nhà giáo dục phải chú ý để giúp trẻ vượt qua những khó khăn của lứa
tuổi khùng hoảng này.
- Việc giáo dục phải xuất phát từ đặc điểm tự nhiên và nhu cầu phát triển tự nhiên
của trẻ, tránh áp đặt, khiên cưỡng giáo dục
- Đánh giá cao vai trò của giáo dục gia đình gia đình là môi trường giáo dục đầu
tiên và người mẹ là nhà giáo dục đầu tiên của đứa trẻ
CÂU 4: phân tích quan điểm của Comenxki về vai trò của giáo dục
Đề cao vai trò của giáo dục :
Đối với sự phát triển xã hội:
- Phê phán những tệ nạn xấu xa, áp bức, bất công, bạo lực... kêu gọi cải tạo xã hội,
xóa bỏ sự bất công bằng
- Có thể phát triển xã hội thông qua xây dựng, mở mang trường học, mang lại học
vấn, tri thức cho con người
-Đặt giáo dục vào một vị trí hết sức to lớn và kêu gọi sự bình đẳng trong giáo dục,
mở trường học chung cho tất cả mọi người không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân
nghèo, nam nữ. Do vậy, ông cho rằng giáo dục cần cho tất cả mọi người, đặc biệt
là thanh niên, ông nói: ” Tất cả các trẻ em trai và gái, con nhà giàu cũng như
con nhà nghèo, ở thành phố hay ở thôn quê đều phải được vào nhà trường một
cách bình đẳng”.
Đối với sự phát triển cá nhân: đánh giá rất cao vai trò của giáo dục và sự hình thành và
phát triển nhân cách: ông nói “Người giàu có mà không có học vấn chẳng khác nào con
lợn béo ỷ vì ăn cám; người nghèo khó không có học vấn thì khác nào con lừa đau khổ
buộc phải tải nặng . Một người có hình thức đẹp đẽ mà không có học vấn thì chỉ là một
con vẹt có bộ lông hào nhoáng, hoặc như người ta đã nói, một lưỡi kiếm bằng chì trong
vỏ kiếm bằng vàng”
Ngoài ra, Comenxki đề cao vị trí của người thầy giáo. Ông nói rằng “Dưới ánh sáng mặt
trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”, ông đặt ra cho thầy giáo những yêu
cầu cao về lòng nhân ái, về phẩm chất đạo đức để làm gương sáng cho học sinh. Người
thầy phải đối xử với học sinh công bằng, ân cần, hoà nhã...
Nguyên tắc giáo dục phải phù hợp với tự nhiên:
- Đây là luận điểm khởi đầu có ảnh hưởng chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống
quan điểm giáo dục của ông
- Con người là một thực thể của tự nhiên , tự nhiên xuất phát từ quy luật do đó con
người phải tuân theo quy luật phổ biến của tự nhiên,và có thể coi giáo dục như là
một bộ phận của tự nhiên, giáo dục cũng phải diễn ra theo những quy luật nhất
định dựa trên quy luật phát triển của tự nhiên .
CÂU 5: Phân tích quan điểm của Macarenko về lí luận tập thể cơ sở
Macarenkô là người đầu tiên có những kiến giải cụ thể và xác đáng về cơ chế của
tập thể giáo dục – đó là tập thể cơ sở.
- Quan niệm của Macarenkô về tập thể cơ sở: Tập thể không phải là phép cộng đơn
giản những cá nhân, không phải là một đám đông hay một sự tụ họp. Ông
viết:“Tập thể nhất thiết phải là một tế bào xã hội sống động. Vì nó là cơ thể sống
nên nó có các cơ quan đại diện, có trách nhiệm, có mối tương quan của các bộ
phận, có sự phụ thuộc lẫn nhau. Còn nếu không có những cái đó thì sẽ không có
tập thể, mà chỉ đơn giản là một đám đông hay sự tụ họp”.
- Tập thể là một hình thức liên kết nhiều người thành một tổ chức có ki luật, có quy
tắc hoạt động chung, mỗi thành viên có quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm . Phát
triển đến trình độ cao sẽ có dư luận lành mạnh, có truyền thống tốt đẹp, mỗi thành
viên tự giác hoạt động vì danh dự, vì lợi ích chung và như vậy tập thể trở thành
một môi trường, một phương tiện giáo dục có hiệu quả.
Một tập thể học sinh hình thành và phát triển qua ba giai đoạn
Giai đoạn 1: Giai đoạn mới thành lập
- Lúc này các thành viên được tập hợp từ nhiều nơi cho nên chưa quen biết nhau.
Vai trò của nhà giáo dục, người tổ chức là rất quan trọng. Nhà giáo dục phải
trực tiếp giải quyết tất cả những công việc cho đến khi ban tự quản lớp được
chỉ định. Sự chỉ định này mới dừng lại ở mức cảm tính, qua nghiên cứu tài liệu,
học bạ hoặc gặp gỡ ban đầu. Công việc của tập thể đi vào nền nếp , các thành
viên hiểu nhau hơn