TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
51TCNCYH 197 (12) - 2025
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH
SUY THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI ĐANG LỌC MÁU CHU KỲ
TẠI GIA LAI
Dương Hải Yến¹,, Hoàng Lan Vân², Lê Minh Thi³
¹Bệnh viện Đa khoa Gia Lai
²Trường Y Dược Phenikaa, Đại học Phenikaa
³Trường Đại học Y tế Công cộng
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, suy thận giai đoạn cuối, lọc máu chu kỳ, KDQOL-36.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tả chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh suy thận mạn giai
đoạn cuối (ESRD) điều trị lọc máu chu kỳ và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Gia Lai
năm 2025. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang được áp dụng trên 193 người bệnh ≥ 18 tuổi, có thời gian lọc
máu ít nhất 3 tháng. Công cụ KDQOL-36™ được sử dụng để đo lường CLCS, số liệu được xử bằng SPSS
26, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy điểm CLCS
chung đạt 36,4 ± 9,5. Trong các lĩnh vực, sức khỏe thể chất (16,1 ± 13,9) sức khỏe tinh thần (15,5 ± 8,5)
điểm thấp nhất. Ngược lại, lĩnh vực triệu chứng các vấn đề liên quan đến bệnh thận đạt điểm cao nhất
(59,3 ± 15,8). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy: tuổi cao, trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp không ổn định,
thiếu BHYT và thiếu hỗ trợ từ gia đình là những yếu tố liên quan độc lập đến CLCS, với sự khác biệt có ý nghĩa
thống (p < 0,05). Nhìn chung, CLCS của người bệnh ESRD tại Gia Lai mức trung bình–thấp, thể hiện
qua điểm trung bình CLCS chung 36,4 ± 9,5 (trên thang điểm 0–100, điểm càng cao thì CLCS càng tốt) cho
thấy cần các giải pháp y tế hội toàn diện nhằm cải thiện chất lượng sống cho nhóm bệnh nhân này.
Tác giả liên hệ: Dương Hải Yến
Bệnh viện Đa khoa Gia Lai
Email: haiyen2020@gmail.com
Ngày nhận: 15/09/2025
Ngày được chấp nhận: 13/10/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy thận mạn giai đoạn cuối (ESRD) là tình
trạng suy giảm chức năng thận không hồi phục,
buộc người bệnh phải điều trị thay thế bằng
lọc máu chu kỳ hoặc ghép thận để duy trì sự
sống.1 Theo Hiệp hội Thận học Quốc tế, hiện
nay khoảng 850 triệu người trên thế giới
sống chung với bệnh thận mạn, trong đó ESRD
nguyên nhân tử vong đứng thứ 10 trên thế
giới.2 WHO xác định CLCS là chỉ số quan trọng
phản ánh hiệu quả điều trị.3 Nhiều nghiên cứu
quốc tế ghi nhận CLCS thấp bệnh nhân
ESRD.4-8 Tại Việt Nam, các nghiên cứu ở Bạch
Mai, Cần Thơ, Thành Phố Hồ Chí Minh, Nghệ
An, Thái Bình đều cho thấy CLCS ở mức trung
bình - thấp đặc biệt ở các lĩnh vực sức khỏe thể
chất và tinh thần.9-13 Tuy nhiên, các nghiên cứu
này chủ yếu tập trung bệnh viện tuyến trung
ương hoặc các thành phố lớn, nơi có điều kiện
kinh tế - xã hội và hệ thống y tế phát triển hơn.
Trong khi đó, dữ liệu về CLCS của bệnh nhân
ESRD tại các tỉnh miền núi, nơi có tỷ lệ dân tộc
thiểu số cao, điều kiện kinh tế còn hạn chế
khả năng tiếp cận y tế khó khăn, vẫn còn rất ít.
Khoảng trống này khiến cho việc hoạch định
chính sách y tế phân bổ nguồn lực hỗ trợ
bệnh nhân ESRD tại khu vực khó khăn chưa
thực sự dựa trên bằng chứng. Do đó, nghiên
cứu này được thực hiện nhằm: (1) tả chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân suy thận mạn
giai đoạn cuối đang lọc máu tại Gia Lai năm
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
52 TCNCYH 197 (12) - 2025
2025; (2) Phân tích các yếu tố liên quan đến
chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân trên.
Kết quả nghiên cứu không chỉ phản ánh thực
trạng tại Gia Lai còn cung cấp sở so
sánh với các vùng đồng bằng và thành thị, góp
phần định hướng các chính sách y tế và xã hội
phù hợp hơn, hướng tới mục tiêu công bằng
trong chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân suy
thận mạn.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
những người bệnh (NB) suy thận mạn
giai đoạn cuối đang điều trị lọc máu chu kỳ tại
Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Bệnh viện
Đa khoa Gia Lai năm 2025.
Tiêu chuẩn lựa chọn
Người bệnh từ 18 tuổi trở lên, được chẩn
đoán xác định ESRD, đã lọc máu chu kỳ 3
tháng, đồng ý tham gia nghiên cứu khả
năng trả lời phỏng vấn.
Tiêu chuẩn loại trừ
Người bệnh trong tình trạng cấp cứu hoặc
quá nặng (hôn mê, rối loạn tri giác), hạn chế
giao tiếp.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang.
Thời gian và địa điểm
Nghiên cứu tiến hành từ tháng 01 đến tháng
08/2025 tại Đơn nguyên Thận nhân tạo - Khoa
Hồi sức tích cực - Chống độc, Bệnh viện Đa
khoa Gia Lai.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Toàn bộ 193 người bệnh đủ tiêu chuẩn,
đang điều trị lọc máu chu kỳ tại Đơn nguyên
Thận nhân tạo - Bệnh viện Đa khoa Gia Lai từ
tháng 01 đến tháng 08 năm 2025 đều được mời
đồng ý tham gia nghiên cứu. Phương pháp
chọn mẫu toàn bộ người bệnh trong danh sách
điều trị, không ghi nhận trường hợp từ chối
hoặc không hợp tác. Dữ liệu được thu thập
bằng phỏng vấn trực tiếp sau buổi lọc máu
kết hợp với hồ sơ bệnh án.
Nội dung và chỉ số nghiên cứu
Biến số chính chất lượng cuộc sống được
đo lường bằng bộ công cụ KDQOL-36™14, gồm
36 câu hỏi thuộc 5 lĩnh vực: sức khỏe thể chất,
sức khỏe tinh thần, triệu chứng/vấn đề bệnh
thận, tác động của bệnh thận gánh nặng
bệnh thận. Bộ công cụ đã được dịch ra tiếng
việt, chuẩn hoá kiểm định độ tin cậy với hệ số
Cronbach’s alpha > 0,07, Điểm CLCS được quy
đổi trên thang 0 - 100, trong đó điểm càng cao
thể hiện CLCS càng tốt; trong phân tích, điểm <
50 thường được xem là mức trung bình-thấp và
50 mức trung bình-cao.15 Các biến số độc
lập được khảo sát gồm: Đặc điểm nhân khẩu
học: tuổi (phân chia thành 3 nhóm: < 30 tuổi,
30 - 50 tuổi, > 50 tuổi, dựa trên phân bố mẫu
và tham khảo các nghiên cứu trong nước), giới,
tình trạng hôn nhân, dân tộc, nghề nghiệp, trình
độ học vấn. Thu nhập hộ gia đình: tính bằng tổng
thu nhập hàng tháng chia cho số thành viên;
được phân loại theo Chuẩn nghèo đa chiều giai
đoạn 2021-2025 do Chính phủ Việt Nam ban
hành (Quyết định 07/2021/QĐ-TTg; Thông
02/2021/TT-BLĐTBXH). Bảo hiểm y tế: phân loại
thành (1) BHYT sử dụng thuận lợi trong chi
trả chi phí lọc máu; (2) không có hoặc có nhưng
gặp khó khăn khi sử dụng.
Mức độ hỗ trợ gia đình: phân loại thành (1)
đầy đủ - khi người bệnh thường xuyên nhận
được hỗ trợ tài chính, tinh thần hoặc chăm sóc
trong quá trình điều trị; (2) ít hoặc không - khi
chỉ nhận hỗ trợ hạn chế hoặc hầu như không
nhận được.
Hỗ trợ y tế: được đánh giá dựa trên mức
độ thuận lợi trong tiếp cận dịch vụ y tế tại bệnh
viện (tốt/không tốt), bao gồm thời gian chờ đợi
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
53TCNCYH 197 (12) - 2025
và khả năng tiếp cận dịch vụ lọc máu định kỳ.
Yếu tố lâm sàng: thời gian lọc máu, tần suất
lọc máu, số bệnh kèm. Thiếu máu (Hb < 11 g/
dL, theo KDIGO 2020) được thu thập từ hồ
được đưa vào phân tích như một biến lâm
sàng; liệu pháp điều trị thiếu máu (ESA/ truyền
máu/ điều trị sắt) cũng được ghi nhận.
Quy trình tiến hành
Nghiên cứu viên được tập huấn thống nhất
quy trình. Người bệnh được giải thích mục tiêu
nghiên cứu và phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu
hỏi KDQOL-36™ sau buổi lọc máu, bảo đảm
không ảnh hưởng đến quá trình điều trị.
Xử lý số liệu
Số liệu được nhập phân tích bằng phần
mềm SPSS 26. Sử dụng thống tả (tần
suất, tỷ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn)
để trình bày đặc điểm mẫu nghiên cứu và điểm
CLCS. Sử dụng kiểm định t-test ANOVA
để so sánh điểm trung bình giữa các nhóm.
Biến phụ thuộc trong hình hồi quy điểm
CLCS chung (tính theo thang điểm 0-100 từ bộ
KDQOL-36™). Các biến độc lập bao gồm đặc
điểm nhân khẩu học (tuổi, giới, tình trạng hôn
nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn), yếu tố xã
hội (bảo hiểm y tế, hỗ trợ gia đình, hỗ trợ y tế)
và yếu tố lâm sàng (thời gian lọc máu, số bệnh
kèm theo). Những biến có giá trị p < 0,20 trong
phân tích đơn biến được đưa vào hình hồi
quy tuyến tính đa biến nhằm xác định các yếu
tố liên quan độc lập đến CLCS.
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong
nghiên cứu Y sinh học - Trường Đại học Y
tế Công cộng thông qua theo Quyết định số
96/2025/YTCC-HĐ3 về việc chấp thuận các
vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học,
ban hành ngày 08/4/2025 (Mã số: 025-096/
DD-YTCC), đồng thời được sự chấp thuận của
lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Gia Lai. Trong suốt
quá trình nghiên cứu, các quy định về đạo đức
được tuân thủ nghiêm ngặt. Người bệnh tham
gia hoàn toàn tự nguyện, thông tin nhân
được bảo mật chỉ sử dụng cho mục đích
nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ
1. Chất lượng cuộc sống của người bệnh
suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ
Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu của đối tượng nghiên cứu (n = 193)
Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi (46,63 ± 15,11; 18 - 90)
< 30 25 13,0
30 - 50 106 54,9
> 50 62 32,1
Giới
Nam 104 53,9
Nữ 89 46,1
Dân tộc
Dân tộc kinh 101 52,3
Dân tộc thiểu số 92 47,7
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
54 TCNCYH 197 (12) - 2025
Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Trình độ học vấn
Không biết chữ - dưới tiểu học 102 52,8
Trung học cơ sở đến dưới phổ thông 64 33,2
Tốt nghiệp phổ thông 18 9,3
Tốt nghiệp cao đẳng/đại học 94,7
Nghề nghiệp
Không có việc làm 171 88,6
Công chức - nghỉ hưu 5 2,6
Nghề tự do 17 8,8
Thu nhập bình quân gia đình
Dưới 2 triệu 37 19,2
Từ 2 - <2,5 triệu 53 27,5
Từ 2,5 - <5 triệu 84 43,5
Trên 5 triệu 19 9,8
Tình trạng hôn nhân
Độc thân 34 17,6
Đã kết hôn/sống như vợ chồng 153 79,3
Ly hôn/ly thân 6 3,1
Nơi ở sau khi chạy thận
Ở nhà 165 85,5
Ở nhà trọ 6 3,1
Ở trong bệnh viện 22 11,4
Khoảng cách từ nhà đến bệnh viện
Dưới 5km 15 7,8
Từ 5 - 10km 18 9,3
Trên 10km 160 82,9
Trong tổng số 193 NB thuộc đối tượng
nghiên cứu, tuổi trung bình của người bệnh
46,63 ± 15,11 tuổi, trong đó tuổi thấp nhất
18 tuổi, cao nhất 90 tuổi; nhóm tuổi từ 30 -
50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 54,9%. NB chạy
thận nhân tạo chu kỳ đa số nam giới chiếm
53,9%. NB có trình độ văn hóa “không biết chữ
- dưới tiểu học” chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,8%.
Về nghề nghiệp, đa số NB không việc làm
chiếm 88,6%. NB đã kết hôn, sống cùng vợ/
chồng chiếm tỷ lệ cao nhất với 79,3%.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
55TCNCYH 197 (12) - 2025
Bảng 2. Điểm chất lượng cuộc sống theo thang đo KDQOL-36™
Các khía cạnh Giá trị trung bình ± SD Min Max
Sức khỏe thể chất 16,1 ± 13,9 0 65
Sức khỏe tinh thần 15,5 ± 8,5 0 42,1
Gánh nặng bệnh 25,8 ± 10,1 0 62,5
Các triệu chứng và vấn đề bệnh thận 59,3 ± 15,8 20,8 97,9
Tác động của bệnh thận 38,4 ± 14,5 3,1 84,4
Điểm trung bình CLCS chung 36,4 ± 9,5 16,4 68,2
Điểm trung bình CLCS chung của nhóm
người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối đang
lọc máu chu kỳ đạt 36,4 ± 9,5. Trong đó chức
năng tinh thần có điểm thấp nhất 15,5 ± 8,5, tiếp
đến chức năng thể chất 16,1 ± 13,9 điểm.
Lĩnh vực gánh nặng bệnh thận 25,8 ± 10,1
điểm. Ngược lại, lĩnh vực triệu chứng các
vấn đề bệnh thận điểm trung bình cao nhất
59,3 ± 15,8 điểm. Lĩnh vực tác động bệnh thận
đạt mức trung bình - thấp với 38,4 ± 14,5 điểm.
2. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc
sống của người bệnh suy thận mạn
Bảng 3. Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân và chất lượng cuộc sống
của người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ
tại bệnh viện đa khoa Gia Lai năm 2025
Đặc điểmSố lượng (n) Trung bình ± SD Giá trị (p)
Nhóm tuổi
< 0,001**
< 30 25 42,2 ± 10,8
30 - 50 106 37,3 ± 8,9
> 50 62 32,5 ± 8,4
Giới
0,017*Nam 104 37,6 ± 10,2
Nữ 89 35,0 ± 8,3
Dân tộc
0,950*Kinh 101 36,5 ± 9,5
Thiểu số 92 36,5 ± 9,4
Trình độ học vấn
0,318**
Không biết chữ - dưới tiểu học 102 35,9 ± 9,1
Trung học cơ sở đến dưới phổ thông 64 35,9 ± 8,9
Tốt nghiệp phổ thông 18 39,5 ± 11,4
Tốt nghiệp cao đẳng/đại học 939,7 ± 12,7