
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
11TCNCYH 197 (12) - 2025
LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG Ở NAM GIỚI:
NGHIÊN CỨU MÔ TẢ CẮT NGANG
TẠI TRUNG TÂM DỊ ỨNG MIỄN DỊCH LÂM SÀNG,
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Nguyễn Hoàng Phương1,2, Nguyễn Ngọc Anh1, Cao Thị Trinh2
Trần Thị Mùi1,3, Nguyễn Thị Mai Hương1, Chu Chí Hiếu2
Lê Đình Tùng1 và Bùi Văn Dân1,4,
1Trường Đại học Y Hà Nội
2Bệnh viện Bạch Mai
3Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
4Bệnh viện E
Từ khoá: Giảm tiểu cầu, lupus ban đỏ hệ thống (SLE), nam giới, viêm thận lupus, viêm thanh mạc.
Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là một bệnh lý tự miễn mạn tính, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, thường
gặp ở nữ. Trong khi đó, SLE ở nam chưa được quan tâm đúng mức do tỷ lệ mắc bệnh ít hơn nhiều so
với nữ. Tại Việt Nam, rất ít các báo cáo riêng biệt SLE ở nam giới. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả
cắt ngang tại Trung tâm Dị ứng Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai ở 55 nam giới được chẩn đoán
SLE. Kết quả cho thấy nam có tuổi trung bình hiện mắc cao hơn so với nữ giới. Tỷ lệ viêm thanh mạc
và giảm tiểu cầu cao hơn ở nam, trong khi nữ thường gặp ban da và viêm khớp. Viêm thận lupus gặp ở
50,9% và có liên quan đến người trẻ, hoạt tính bệnh cao, eGFR thấp và giảm C3. Các tự kháng thể đặc
hiệu không có sự khác biệt giữa nhóm có hoặc không tổn thương thận. Dữ liệu của nghiên cứu giúp
định hướng chiến lược chẩn đoán, theo dõi và điều trị phù hợp hơn đối với lupus nam giới tại Việt Nam.
Tác giả liên hệ: Bùi Văn Dân
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: buivandan@hmu.edu.vn
Ngày nhận: 12/09/2025
Ngày được chấp nhận: 07/10/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus
Erythematosus - SLE) là một bệnh lý tự miễn
mạn tính, có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan
và hệ thống trong cơ thể. Bệnh thường gặp ở
nữ giới, đặc biệt trong độ tuổi sinh sản, với tỷ lệ
nữ:nam dao động khoảng từ 8 - 10:1.1-4 Do đó,
phần lớn các nghiên cứu dịch tễ học, lâm sàng
và điều trị hiện nay chủ yếu tập trung vào đối
tượng nữ giới. Trong khi đó, SLE ở nam giới
chưa được quan tâm đúng mức do tỷ lệ mắc
bệnh ít hơn nhiều so với nữ giới.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng SLE ở nam giới
thường có tuổi khởi phát muộn hơn so với nữ
(trung bình 40 ± 19 tuổi vs. 36 ± 15 tuổi). Bên
cạnh đó, SLE ở nam giới thường có nguy cơ
tổn thương thận hơn và hoạt động bệnh nặng
hơn và đáp ứng điều trị không ổn định so với nữ
giới.1,5 Nam giới bị lupus có nguy cơ tiến triển
đến suy thận giai đoạn cuối cao hơn (HR 5,1)
với xu hướng tử vong cao hơn (HR 1,7), mặc dù
chưa đạt ý nghĩa thống kê.1 Ngoài ra, trong các
nghiên cứu hồi cứu, tổn thương thận thường
nặng nề ở nam giới, với tỷ lệ cần lọc máu cao
ngay trong năm đầu khởi phát.6 Do đó, cần có
hướng tiếp cận phù hợp với SLE ở nam giới để
có thể duy trì được tình trạng bệnh ổn định lâu
dài và hạn chế tổn thương cơ quan đích.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
12 TCNCYH 197 (12) - 2025
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về SLE ở nam
giới còn khá hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu
nhận diện đặc điểm bệnh học trên nhóm đối
tượng này ngày càng trở nên cần thiết trong
bối cảnh thực hành lâm sàng, nhằm hỗ trợ cho
việc chẩn đoán sớm, điều trị đúng hướng và dự
phòng các biến chứng nguy hiểm. Trung tâm Dị
ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai
là đơn vị đầu ngành trong lĩnh vực Dị ứng và
Miễn dịch lâm sàng tại Việt Nam, với số lượng
lớn người bệnh SLE nặng đang được quản lý
và điều trị, trong đó có không ít trường hợp là
nam giới.
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu “Lupus ban đỏ hệ thống ở nam giới:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Trung tâm Dị
ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai”
nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận
lâm sàng và điều trị của người bệnh SLE nam
giới. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ đóng góp
thêm dữ liệu thực tiễn cho y văn trong nước,
đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc
xây dựng chiến lược quản lý người bệnh SLE
ở nam giới một cách hiệu quả và phù hợp hơn.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Nghiên cứu được tiến hành trên 55 người
bệnh nam giới được chẩn đoán SLE đang điều
trị nội trú tại Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm
sàng, Bệnh viện Bạch Mai.
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Nam giới chẩn đoán SLE theo tiêu chuẩn
của Systemic Lupus International Collaborating
Clinics (SLICC 2012) với 4 tiêu chuẩn (có ít
nhất 1 tiêu chuẩn lâm sàng và 1 tiêu chuẩn cận
lâm sàng) hoặc viêm thận lupus được chứng
minh trên sinh thiết kèm xuất hiện kháng thể
kháng nhân (ANA) hoặc kháng thể kháng chuỗi
kép DNA (dsDNA).
Viêm thận lupus được chẩn đoán dựa trên
tiêu chuẩn của Hội khớp học Mỹ năm 1997 (The
American College of Rheumatology - ACR)
khi người bệnh SLE có (1). Protein niệu > 0,5
g/24h tương đương UPCR > 50 mg/mmol hoặc
protein niệu > 3+ trên que thử nếu không định
lượng được; (2) và/hoặc cặn nước tiểu hoạt
động (> 5 hồng cầu/vi trường phóng đại cao,
và/hoặc > 5 bạch cầu/vi trường phóng đại mà
không có bằng chứng của nhiễm khuẩn đường
tiết niệu); (3) và/hoặc trụ hồng cầu, trụ bạch
cầu mà không có bằng chứng của nhiễm khuẩn
đường tiết niệu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Người bệnh SLE thể phối hợp với các bệnh
tự miễn khác (như viêm khớp dạng thấp, viêm
da cơ, viêm đa cơ, xơ cứng bì); lupus do thuốc.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2024
đến tháng 7/2025 tại Trung tâm Dị ứng Miễn
dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai.
Thu thập dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng
Biến số được thu thập theo mẫu bệnh án
nghiên cứu với các biến số về nhân sinh trắc
(tuổi, giới, chiều cao, cân nặng); triệu chứng và
dấu hiệu trong chẩn đoán xác định theo SLICC
2012 và chẩn đoán mức độ nặng theo bảng
chỉ số SLEDAI như ban cánh bướm, ban dạng
đĩa, nhạy cảm ánh sáng, loét miệng họng, rụng
tóc, sưng đau và biến dạng khớp, co giật, viêm
thanh mạc, tổn thương thận.
Xét nghiệm công thức máu, Coomb trực
tiếp và gián tiếp được thực hiện tại Trung tâm
Huyết học và Truyền máu; xét nghiệm chức
năng thận, nước tiểu cắt ngang, protein niệu
24h, creatinin niệu và protein niệu cắt ngang;
men gan; protein máu toàn phần, albumin máu,
bổ thể C3 và C4 được thực hiện tại Khoa Hoá

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
13TCNCYH 197 (12) - 2025
sinh, Bệnh viện Bạch Mai tại thời điểm người
bệnh vào viện.
Xét nghiệm các tự kháng thể kháng nhân,
dsDNA, Sm, kháng thể kháng phospholipid
(aPL, aCL, b2GP), SSA, SSB, pANCA, cANCA,
C1q được thực hiện tại Trung tâm Dị ứng Miễn
dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai.
Phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập và xử lý số bằng phần
mềm SPSS phiên bản 20.0. Các số liệu định
lượng được biểu hiện dưới dạng trung bình ±
độ lệch chuẩn; min và max. Các số liệu định tính
được biểu hiện dưới dạng %. Để so sánh với
đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của SLE ở
nam giới và nữ giới, chúng tôi so sánh kết quả
của nghiên cứu này với kết quả của tác giả Tạ
Thị Hồng Thúy năm 2011 với đối tượng SLE nữ
giới điều trị nội trú tại Trung tâm Dị ứng Miễn
dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai.7 Lựa chọn
so sánh với nghiên cứu này do chỉ thực hiện trên
đối tượng nữ giới và tất cả các đối tượng người
bệnh nhập viện nội trú mà không chọn theo cơ
quan tổn thương như các nghiên cứu khác. Kết
quả kiểm định được đánh giá có ý nghĩa thống
kê với giá trị p < 0,05 (độ tin cậy 95%) thực hiện
với T-Test hoặc Fisher’s Exact Test.
3. Đạo đức nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu được thông qua Hội
đồng khoa học trước khi triển khai. Đối tượng
được thông báo rõ mục đích nghiên cứu, tham
gia trên tinh thần tự nguyện. Các thông tin cá
nhân được mã hoá khi nhập vào máy tính và
được giữ bí mật.
III. KẾT QUẢ
1. Đặc điểm lâm sàng và miễn dịch trong bộ
tiêu chuẩn SLICC 2012 của nhóm đối tượng
nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên 55
người bệnh nam giới được chẩn đoán SLE điều
trị nội trú tại Trung tâm Dị ứng Miễn dịch lâm
sàng, Bệnh viện Bạch Mai. Độ tuổi trung bình
tại thời điểm nghiên cứu của người bệnh SLE
nam giới cao hơn rõ rệt so với nữ giới (41,9 ±
19,8 so với 31,1 ± 11,4, p = 0,000). Các biểu
hiện lâm sàng thường gặp như ban da, rụng
tóc, viêm khớp và loét miệng ở nữ giới cao hơn
so với nam giới, với sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05). Ngược lại, viêm thanh
mạc xuất hiện với tỷ lệ cao hơn ở nhóm nam
(54,5% so với 30,4%, p = 0,005). Về biểu hiện
huyết học, tỷ lệ giảm tiểu cầu ở nam giới cao
hơn đáng kể so với nữ (45,5% so với 15,9%,
p = 0,000). Tổn thương thận gặp ở 50,9% các
trường hợp lupus nam giới. Tuy nhiên, không
có sự khác biệt về tổn thương thận, giảm bạch
cầu và tổn thương thần kinh trung ương của 2
giới. (Bảng 1)
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng trong bộ tiêu chuẩn SLICC 2012
Đặc điểm
Nguyễn Hoàng Phương
và cộng sự
Tạ Thị Hồng Thúy
và cộng sự7p
n Tỷ lệ %, x
± SD n Tỷ lệ %, x
± SD
Tuổi tại thời điểm nghiên cứu (năm) 55 41,9 ± 19,8 82 31,1 ± 11,4 0,000
Tuổi chẩn đoán SLE lần đầu (năm) 55 39,5 ± 20,8 82 N/A
Ban da 17 30,8% 60 73,2% 0,000
Loét miệng 4 7,3% 16 19,5% 0,047

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
14 TCNCYH 197 (12) - 2025
Đặc điểm
Nguyễn Hoàng Phương
và cộng sự
Tạ Thị Hồng Thúy
và cộng sự7p
n Tỷ lệ %, x
± SD n Tỷ lệ %, x
± SD
Rụng tóc 11 20,7% 48 58,3% 0,000
Viêm khớp 10 18,2% 62 75,6% 0,000
Viêm thanh mạc 30 54,5% 25 30,4% 0,005
Tổn thương thận 28 50,9% 50 60,9% 0,243
Tổn thương tâm thần kinh 5 9,1% 4 4,9% 0,329
Thiếu máu tan máu 29 52,7% N/A N/A
Giảm bạch cầu 12 21,8% 21 37,8% 0,611
Giảm bạch cầu lympho 28 50,9% N/A N/A
Giảm tiểu cầu 25 45,5% 13 15,9% 0,000
Ghi chú: N/A (Không có dữ liệu)
Tỷ lệ dương tính với ANA đạt 98,2%, trong
khi kháng thể kháng dsDNA và kháng Sm được
phát hiện lần lượt ở 80% và 68,9% số trường
hợp, cho thấy sự hiện diện phổ biến của các tự
kháng thể đặc hiệu trong SLE. Tỷ lệ người bệnh
có giảm bổ thể cũng ở mức cao, với 72,7%
giảm C3 và 50,9% giảm C4. Test Coombs
trực tiếp dương tính được ghi nhận ở 52,7%
đối tượng. Ngược lại, các kháng thể liên quan
đến hội chứng kháng phospholipid như kháng
cardiolipin (IgM: 8,3%, IgG: 4,2%) và kháng
beta2 glycoprotein (IgM: 4,3%, IgG: 2,1%) xuất
hiện với tỷ lệ thấp; tương tự, kháng đông lupus
chỉ dương tính ở 16,7% trong số các trường
hợp được xét nghiệm. (Bảng 2)
Bảng 2. Đặc điểm miễn dịch trong bộ tiêu chuẩn SLICC 2012
Đặc điểm
Nguyễn Hoàng Phương
và cộng sự
Tạ Thị Hồng Thúy
và cộng sự7p
n = 55 Tỷ lệ % n = 82 Tỷ lệ %
ANA (+) 54/55 98,2% 20/22 90,9% 0,144
Kháng DsDNA (+) 44/55 80% 11/22 50% 0,012
Kháng Sm (+) 31/45 68,9% N/A N/A
Kháng Cardiolipin IgM (+) 4/48 8,3% N/A N/A
Kháng Cardiolipin IgG (+) 2/48 4,2% N/A N/A
Kháng Beta2 Glycoprotein IgM (+) 2/47 4,3% N/A N/A

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
15TCNCYH 197 (12) - 2025
Đặc điểm
Nguyễn Hoàng Phương
và cộng sự
Tạ Thị Hồng Thúy
và cộng sự7p
n = 55 Tỷ lệ % n = 82 Tỷ lệ %
Kháng Beta2 Glycoprotein IgG (+) 1/47 2,1% N/A N/A
Kháng đông lupus (+) 2/12 16,7% N/A N/A
Bổ thể C3 (g/L) giảm 40/55 72,7% N/A N/A
Bổ thể C4 (g/L) giảm 28/55 50,9% N/A N/A
Coombs trực tiếp dương tính 29/55 52,7% N/A N/A
Ghi chú: N/A (Không có dữ liệu)
2. Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên
quan với tổn thương thận ở đối tượng lupus
nam giới
Kết quả so sánh giữa hai nhóm có và không
có viêm thận lupus cho thấy nhiều khác biệt có
ý nghĩa thống kê. Nhóm có viêm thận lupus có
tuổi trung bình thấp hơn đáng kể so với nhóm
không viêm thận (33,96 ± 17,74 so với 50,19
± 18,68; p = 0,002). Các biểu hiện lâm sàng
như phù và tăng huyết áp cũng phổ biến hơn
ở nhóm viêm thận, với tỷ lệ lần lượt là 71,4%
và 75% so với 11,1% và 7,1% ở nhóm không
viêm thận (p < 0,01). Các chỉ số sinh hóa máu
cho thấy nhóm viêm thận lupus có nồng độ
ure và creatinin máu cao hơn đáng kể (14,06
± 9,93 mmol/L và 116,4 ± 105,8 µmol/L) so với
nhóm không viêm thận (7,1 ± 3,9 mmol/L và
91,6 ± 66,4 µmol/L; p < 0,05). Đồng thời, mức
protein toàn phần và albumin máu ở nhóm viêm
thận lupus thấp hơn, trong khi protein niệu 24
giờ cao hơn rõ rệt (2,42 ± 2,6 g so với 0,2 ±
0,1 g; p = 0,001), phản ánh rõ ràng tình trạng
tổn thương thận. Mức lọc cầu thận trung bình
(eGFR) ở nhóm viêm thận lupus cũng thấp hơn
có ý nghĩa (62,39 ± 34,48 ml/phút so với 84,46
± 36,52 ml/phút; p = 0,025), với tỷ lệ người bệnh
có eGFR < 60 ml/phút cao hơn đáng kể (60,7%
so với 14,3%). Ngoài ra, chỉ số hoạt tính bệnh
SLEDAI ở nhóm có viêm thận cao hơn rõ rệt
(14,82 ± 4,72 so với 6,85 ± 4,22; p = 0,000), cho
thấy mức độ hoạt động bệnh toàn thân nặng nề
hơn. (Bảng 3)
Bảng 3. So sánh đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở nhóm bệnh có/không viêm thận lupus
Đặc điểm Viêm thận lupus Không viêm thận lupus p
n Tỷ lệ %, x
± SD n Tỷ lệ %, x
± SD
Tuổi 28 33,9 ± 17,7 27 50,2 ± 18,7 0,002
Phù 28 71,4% 27 11,1% 0,000
Tăng huyết áp 28 75% 27 11,1% 0,000
Ure máu (mmol/L) 28 14,1 ± 9,9 24 7,1 ± 3,9 0,002
Creatinin máu (µmol/L) 28 159,5 ± 115,8 27 91,7 ± 56,5 0,008

