
199
Phan Ngọc Sơn
Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai
1. Mở đầu
Ảnh hưởng của đại dịch Covid -19 và sự bùng nổ các công nghệ mới nổi
của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã thay đổi hành vi của tất cả chúng ta.
Trong thời đại của công nghệ số như hiện nay, không phải sở hữu nguồn lực lớn
sẽ là sự đảm bảo cho sự thành công, mà đó có lẽ là yếu tố công nghệ và sự thích
ứng với bối cảnh thay đổi liên tục của nền kinh tế toàn cầu. Lĩnh vực giáo dục,
đặc biệt là giáo dục đại học không nằm ngoài xu hướng đó của thời đại. Bất kỳ
cơ sở giáo dục mong muốn phát triển mạnh cần mạnh dạn đầu tư vào công nghệ,
thực hiện việc chuyển đổi số nhanh và mạnh hơn nữa để nâng cao năng lực quản
trị, tiếp cận thật nhanh với công nghệ giáo dục hiện đại, giáo dục thông minh
(Nguyễn Thanh Nam, 2020). Tác động của đại dịch Covid-19 trong năm 2020
lên lĩnh vực giáo dục đại học trên thế giới cho thấy 67% các trường đại học thực
hiện chuyển đổi từ dạy-học trực tiếp sang trực tuyến, 24% chờ chuyển đổi sang
trực tuyến và 7% đóng cửa trường (Marinoni và cộng sự, 2020). Điều này minh
chứng rằng chỉ những cơ sở đào đã có định hướng, chiến lược chuyển đổi số, tích
hợp dạy trực tuyến vào hoạt động giảng dạy trước đó mới có thể chủ động ứng
phó thật nhanh khi đại dịch ấp đến.
Đến nay, chủ đề về chuyển đổi số thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu, các nhà chính sách và các đối tượng có liên quan. Trong đó, một số
nghiên cứu đã tổng hợp các mô hình trên thế giới và đề xuất một số các mô hình
Đại học thông minh phù hợp cho bối cảnh của Việt Nam như V-SMARTH
(Nguyễn Hữu Đức và cộng sự, 2020), hay Hệ thống Giáo dục thông minh (Smart
Education) (Nguyễn Thanh Nam, 2020). Tuy nhiên, việc nghiên cứu, tổng hợp
các cách thức hay chiến lược triển khai tại các trường đại học vẫn còn chưa được
thực hiện nhiều. Do vậy, mục đích của bài viết này là mô tả thực tiễn triển khai
chuyển đổi số ở một cơ sở giáo dục đại học cụ thể, từ đó đúc rút những chiến
lược khả thi, đồng thời chỉ ra những khó khăn, khúc mắc khi hiện thực hoá chiến
lược số hoá quốc gia trong lĩnh vực giáo dục đại học tại Việt Nam.
Tác giả lựa chọn Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai làm bối cảnh để tiến
hành mô tả, phân tích và đánh giá các chiến lược chuyển đối số, hướng đến việc
hình thành một đại học thông minh. Lí do cho sự lựa chọn này xuất phát từ việc

200
đây là cơ sở đào tạo đại học đang trong quá trình chuyển đổi số từ phương thức
đào tạo và quản trị truyền thống. Các chiến lược, thực tiễn triển khai, những kết
quả tích cực cũng như những khó khắn, vướng mắc của Nhà trường khi thực hiện
chuyến đổi số, hướng đến một đại học thông minh được kỳ vọng sẽ là nguồn
tham khảo có ý nghĩa với các cơ sở giáo dục đại học và các nhà xây dựng chính
sách giáo dục.
Ở phần tiếp theo, tác giả tóm tắt về Đại học thông minh và mô hình Đại học
thông minh V-SMARTH, tổng quan về tình huống chuyển đổi số và các chiến
lược thúc đẩy chuyển đổi số hướng đến một đại học thông minh tại Trường đại
học Công nghệ Đồng Nai.
2. Nội dung
2.1. Mô hình Đại học thông minh (Smart University)
Nguyễn Hữu Đức và cộng sự (2020) định nghĩa Đại học thông minh (Smart
University) là “một cơ sở giáo dục định hướng đổi mới sáng tạo được chuyển đổi
số; sử dụng hạ tầng số (pháp lý số, nhân sự số, dữ liệu số, công nghệ số và ứng
dụng số) để cung cấp dịch vụ cá thể hoá cho người học mọi thế hệ ở trong nước
và trên khắp thế giới, đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời và phát triển bền vững
của các cá nhân cũng như các quốc gia”. Xây dựng đại học thông minh, về bản
chất là quá trình chuyển đổi số phương thức quản lý và giáo dục. Hoạt động học
thuật truyền thống trong trường đại học sẽ chuyển đổi qua phương thức hoạt động
học thuật trên phiên bản số của các thực thể và được kết nối trên không gian số.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển hạ tầng công
nghệ thông tin và viễn thông nhanh trên thế giới. Cụ thể, vùng phủ sóng di động
đạt 99,7% dân số, vùng phủ sóng 3G và 4G đạt hơn 98%. Cước phí sử dụng thấp.
Đây là cơ sở quan trọng cho việc phát triển Kinh tế số tại Việt Nam. Tuy nhiên,
trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, việc ứng dụng
các công nghệ 4.0 còn hạn chế do thiếu một chiến lược tổng thể và mô hình tích
hợp quản lý các hoạt động của nhà trường.Nguyễn Hữu Đức và cộng sự (2020)
đề xuất áp dụng mô hình V-SMARTH để xây dựng đại học thông minh phù hợp
với bối cảnh của Việt Nam. Đầu tiên, theo nhóm tác giả để xây dựng đại học
thông minh, các trường đại học cần thực hiện quá trình chuyển đổi số trên ba trụ
cột: (i) Số hoá – chuyển đổi thông tin trên giấy và quy trình thủ công thành định
dạng kỹ thuật số, đặc biệt là nguồn học liệu; (ii) Đổi mới mô hình quản trị đại
học - Ứng dụng công nghệ số để thay đổi các phương thức quản trị, phương pháp
dạy và học; và (iii) Chuyển đổi nhận thức – Thay đổi toàn diện tư duy, văn hoá
và phương thức lãnh đạo, quản trị, tổ chức để phù hợp với mô hình dạy – học
trên môi trường số.

201
Mô hình V-SMARTH có 6 đặc trưng, gồm (i) S - Tài nguyên số; (ii) M –
Học liệu truy cập mở; (iii) A – Môi trường dạy – học ảo, (iv) R – Đáp ứng nhu
cầu riêng của người học, (v) T – Dạy học tương tác, và (vi) H – Hạ tầng số.
Hình1: Mô hình Đại học thông minh V-SMARTH
Nguồn: Nguyễn Hữu Đức và cộng sự (2020).
Phần tiếp theo của bài viết, mô hình V-SMARTH được sử dụng như là một
khung phân tích, đánh giá hoạt động chuyển đổi số hướng đến hình thành một
đại học thông minh của Trường đại học Công nghệ Đồng Nai.
2.2. Chiến lược chuyển đổi số hướng đến mô hình Smart University tại
Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai
Những yêu cầu bức thiết đòi hỏi sự tất yếu phải chuyển đổi số
Là một cơ sở giáo dục đào tạo ngoài công lập và hoàn toàn tự chủ về tài
chính và nguồn nhân lực, Trường đại học Công nghệ Đồng Nai, trong hơn 15
năm hình thành và phát triển, phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức.
Có thể kể ra một số vấn đề lớn như sau:
Vấn đề 1: Làm thế nào để cải cách hoạt động đào tạo trong bối cảnh của
cuộc cách mạng 4.0?. Từ đó, đào tạo ra những con người có khả năng thích ứng,
năng lực làm việc trong thời đại số.
Vấn đề 2: Làm thế nào để kết nối, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở
khắp nơi tại Việt Nam và trên thế giới tham gia vào hoạt động cải cách đào tạo?
Vấn đề 3: Làm thế nào để cải cách bộ máy tổ chức và phương pháp quản
lý truyền thống để đồng bộ hoá với hoạt động cải cách hoạt động đào tạo ở trên?
Nếu những vấn đề trên chưa được quan tâm và giải quyết triệt để, thiết nghĩ
nhà trường khó có thể phát triển bền vững được. Vậy chiến lược nào? Giải pháp

202
cụ thể ra sao để giải được các bài toán quản trị đặt ra cho Ban lãnh đạo nhà trường
tìm câu trả lời.
Lời giải: Chuyển đổi số và mô hình đại học thông minh
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với những công
nghệ mới nổi trên nền tảng ứng dụng thành công Internet kết nối vạn vật (IoT)
và các hệ thống ảo (Cyper Physical System - CPS) mang đến cơ hội để giải quyết
những khó khăn ở trên, từ đó có thể tạo ra những đột phá mới. Nhà trường xác
định phải áp dụng các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực giáo dục để có thể tạo
ra sự chuyển mình mạnh mẽ. Và ý tưởng trở thành một trường Đại học thông
minh xuất hiện. Tuy nhiên, trước hết, các hoạt động cần được chuyển đổi số hay
số hoá để làm nền tảng cho một đại học thông minh trong tương lai.
Vậy, việc chuyển đổi số và xa hơn là Đại học thông minh sẽ giải quyết các
vấn đề mà Nhà trường đang vướng mắc như thế nào? Bảng 1 dưới đây thể hiện
mối liên hệ các vấn đề mà Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai và những giải
pháp, lợi ích từ quá trình chuyển đổi số mang lại.
Bảng 1: Đối sánh giữa các vấn đề cần giải quyết và lợi ích từ chuyển đổi số
Vấn đề cần giải quyết
Các giải pháp từ chuyển đổi số
Cải cách hoạt động đào tạo thích
ứng thời đại số
Hệ thống quản lý học tập trực tuyến
(LMS);
Tài nguyên, học liệu số;
Công nghệ thực hành, thí nghiệm “thực
tại ảo”;
Kết nối, thu hút nguồn nhân lực
khắp mọi nơi
Hệ thống trao đổi công việc và giảng dạy
trực tuyến;
Làm việc, giảng dạy mọi lúc, mọi nơi
Cải cách bộ máy tổ chức và
phương thức quản lý truyền thống
Ứng dụng và vận hành hệ thống quản lý
và điều hành tổ chức toàn diện
Nguồn: Tác giả tổng hợp, đối sánh.
Chiến lược thực thi chuyển đổi số - nền tảng cho một đại học thông minh
Để chuyển hoá ý tưởng Đại học thông minh vào hiện thực, cần có các chiến
lược thực thi thật cụ thể trên cơ sở bối cảnh, nguồn lực và văn hoá của nhà trường.
Từ 2015 đến nay, tổng hợp các văn bản chỉ đạo, các kế hoạch và báo cáo tổng
hợp từ các đơn vị, có thể tổng hợp một cách có hệ thống các chiến lược sau:

203
- Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật:
Từ 2015 đến nay, nhà trường đã đầu tư nâng cấp dần đường truyền internet
và thiết lập hệ thống wifi miễn phí, phủ sóng tập trung tại các khu vực như các
khu giảng đường, thư viện để thu hút sinh viên đến nghiên cứu và học tập. Tuy
nhiên, việc quản lý lưu lượng băng thông internet và mạng nội bộ chưa đạt yêu
cầu. Đặc biệt trong các trường hợp có số lượng người dùng đông, tốc độ truy cập
chậm. Do vậy, không đảm bảo yêu cầu học tập và giảng dạy trực tuyến. Đến giữa
năm 2019, Nhà trường tiến hành thiết lập hệ thống quản lý wifi đồng bộ do Cisco
và Cambium cung cấp. Hệ thống này giúp điều phối lưu lượng băng thông cho
những khu vực cần thiết và kiểm soát tất cả các hoạt động diễn ra trên mạng nội
bộ của Nhà trường. Đồng thời, nhà trường quyết định thay thế hệ thống máy chủ
hiện tại bằng việc thuê dài hạn dịch vụ hạ tầng máy chủ ảo trên nền điện toán
đám mây từ hai nhà cung cấp VNPT và Viettel. Điều này giúp ích cho lưu trữ và
bảo mật thông tin. Đến đây, có thể nói điều kiện cần để thực hiện công cuộc
chuyển đổi số đã hoàn thành.
Bảng 2: Hệ thống hạ tầng kỹ thuật
TT
Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Nhà cung cấp
1.
Thiết bị và hạ tầng công nghệ thông tin sử dụng giải
pháp và công nghệ có tích hợp Điện toán đám mây
CISCO
2.
Đường truyền internet, phủ sóng wifi
FPT Telecom
3.
100 laptop cho sinh viên mượn sử dụng trong khuôn
viên trường
Thinkpad
Lenovo
4.
Hệ thống quản lý xe thông minh, tích hợp với cơ sở dữ
liệu của trường
Megatech
5.
Hệ thống dịch vụ máy chủ ảo Cloud Server
VNPT, Viettel
6.
Hệ thống nhận diện khuôn mặt Camera AI
BKAV
7.
Hệ thống Cabin kiểm tra đánh giá năng lực ngoại ngữ
ĐHQG Hà Nội
Nguồn: Tác giả tổng hợp.
- Xây dựng nguồn tài nguyên, học liệu số:
Để xây dựng nguồn tài nguyên, học liệu số, Nhà trường xây dựng, lắp đặt
một trường quay chuyên nghiệp với mục đích sản xuất các video bài giảng, các
chương trình truyền thông. Các bài giảng, sau khi được Hội đồng cấp khoa và
Nhà trường thẩm định, được đưa lên hệ thống quản lý học tập (LMS) để sinh
viên dễ dàng truy cập và theo dõi. Hoạt động quay, biên tập video bài giảng được
lên kế hoạch chi tiết, đảm bảo trường quay hoạt động liên tục.

