
598
Hồ Thanh Hải
Nguyễn Tam Quang
Võ Phi Long
Nguyễn Thị Tố Nga
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Tóm tắt: Cách ứng xử có văn hóa, phép lịch sự trong giao tiếp là cần thiết trong
đời sống xã hội Việt Nam. Đó là những biểu hiện tốt đẹp của lối sống chung, của ý thức
tôn trọng lẫn nhau, là sự trao đổi cân bằng và sự quan tâm giữa người với người trong
gia đình và ngoài cộng đồng xã hội. Phép lịch sự trong việc ứng xử là một sự tổng hợp
các nghi thức được biểu hiện ra trong giao tiếp, nhưng không phải là những ứng xử một
cách máy móc, mà là những việc làm, lời ăn tiếng nói linh hoạt, nhiều vẻ gắn với từng
hoàn cảnh, từng môi trường cụ thể và tùy theo đối tác gặp gỡ. Trong thời đại công nghệ
4.0 hiện nay, nhất là văn hóa ứng xử ở ở giảng đường đại học của sinh viên có vai trò
cực kì quan trọng. Bài tham luận tập trung vào nghiên cứu cơ sở lí luận về văn hóa ứng
xử của Hồ Chí Minh và việc vận dụng vào việc ứng xử của sinh viên trên không gian
mạng xã hội ở trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Văn hóa; ứng xử; sinh viên; Sư phạm; không gian mạng.
1. Đặt vấn đề
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, những vấn đề lí luận
mang bản chất khoa học và tính cách mạng. Tư Tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá
mang đậm tính chắt lọc, kế thừa, tổng hợp từ các giá trị mang tính văn hoá ở ngay
cả trên 2 phương diện, phương Đông lẫn phương Tây. Cũng chính vì vậy trong
tư tưởng của người luôn mang tính hài hoà, tính sáng tạo, tính phát huy nhưng
vẫn giữ được đậm đà bản sắc dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá còn là
sự giao thoa giữa cái truyền thống và cái hiện đại, những cái cũ nhưng không lỗi
thời sẽ được phát huy, cái lạc hậu tất yếu sẽ bị đào thải. Những cái mới và thực
sự phù hợp với nền văn hoá nước nhà sẽ được người áp dụng một cách triệt để.
Một trong những nét văn hóa đặc sắc của Hồ Chí Minh đó chính là văn hóa ứng
xử. Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề này là một trong những yêu cầu cấp thiết
hiện nay. Đối tượng sinh viên nhất là sinh viên ngành Sư phạm, những giáo viên
tương lại cần có những kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết trong giao tiếp, ứng
xử nhất là hoạt động trên không gian mạng hiện nay.

599
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Một số khái niệm
Văn hóa - “culture”, có gốc chữ Latin chính là sự “trồng cấy”. Ở đây theo
nghĩa bóng thì culture có nghĩa: Văn hoá là quá trình nuôi dưỡng thành con người
như thể gieo trồng và chăm sóc mầm cây vậy. Còn văn hoá theo nghĩa Hán tự là
quá trình con người hoá con người.
Văn hoá là một giá trị, một ý nghĩa, một lối sống bất khả phân với con
người. Con người là con người bởi có văn hoá; văn hoá là văn hoá bởi từ con
người và cho con người.
Muốn trở thành văn hoá, một con người, một gia đình, một xã hội phải đào
luyện, chắt lọc mình trong từng cử chỉ, từng hành vi, từng thể thức, từng thái độ.
Sự chắt lọc ấy tạo nên bản sắc. Như vậy, văn hoá sẽ tạo nên bản sắc và bản sắc
tạo nét riêng đặc thù cho văn hoá. Và một nền giáo dục phải nhắm đến mục đích
đào tạo những con người có bản lĩnh cho xã hội khao khát theo đuổi giá trị văn
hoá. Đào luyện con người văn hoá, trước hết là đào luyện một nền văn hoá toàn
diện cho con người, và sau đó con người đó sẽ mang theo hành trang văn hoá của
mình gia nhập cuộc hành trình của xã hội. Một công dân được giáo dục văn hoá
là công dân có khả năng tham dự vào xã hội bằng một tấm lòng nhân ái, một thái
độ cư xử lịch lãm, đúng mực, và một tâm hồn cao thượng. Một xã hội chỉ có thể
trở thành văn hoá với những công dân đã được đào luyện văn hoá, và nền văn
hoá đó giúp cho mọi người được sống trong ánh sáng nhân bản.
Đảng ta coi việc bồi dưỡng, giáo dục tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ
Chí Minh cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân có tác dụng vô cùng quan trọng.
Tại Đại hội VII, Đảng coi đó là một nội dung lớn trong công tác “Đổi mới, nâng
cao chất lượng công tác tư tưởng” nhằm chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng. Tại Đại hội XII, Đảng coi việc học tập phong cách
Hồ Chí Minh nhằm: “chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và
những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng
phí, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm. Từ đó có thể thấy, phong
cách Hồ Chí Minh đã được Đảng đề cập từ khá sớm và là một trong những nội
dung rất quan trọng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Ứng xử là cách quan hệ giao tiếp, đối xử giữa người với người, giữa cá
nhân với cộng đồng, ứng xử không chỉ được thể hiện qua lời nói, cử chỉ, nét mặt
bề ngoài mà chủ yếu là ở sự chân thành của tình cảm và của mối quan hệ giữa
chủ thể với đối tượng. Vì vậy, ứng xử được coi là biểu hiện tổng hợp của văn hóa
- đạo đức, qua cách ứng xử có thể thẩm định được nhân cách của một con người.
Phản ánh nhân cách, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức trong sáng của Người, nét chung
tạo nên tính nhất quán trong phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là sự chân thành,

600
bình dị, tự nhiên. Đó không phải là một “nghệ thuật xã giao”, mà là sự phản ánh
trung thực tâm hồn, đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh.
Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là hệ thống ứng xử xuyên suốt cuộc đời và
sự nghiệp cách mạng, thể hiện tầm vóc trí tuệ lớn lao cùng tình cảm sâu sắc của
Người; đa dạng, phong phú và hấp dẫn, trong đó nổi bật là tính nhất quán về mục
tiêu, nguyên tắc ứng xử. Hồ Chí Minh có cách ứng xử rất tự nhiên, bình dị, rất
cởi mở, chân tình, vừa chủ động, linh hoạt, lại vừa ân cần, tế nhị đối với nhân
dân, bạn bè, đồng chí, anh em, làm cho bất cứ ai được gặp Người đều thấy không
khí chan hòa, ấm cúng, thoải mái, không cảm thấy sự cách biệt giữa lãnh tụ và
quần chúng.
Bàn về “Không gian mạng” Theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Luật An
ninh mạng 2018 (Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019) thì thuật ngữ không
gian mạng được quy định cụ thể như sau:
Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông
tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông
tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực
hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian [4].
2.2. Sự cần thiết của việc giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên trên không
gian mạng hiện nay
Việt Nam được đánh giá là một nước đang phát triển, với những thành tựu
về khoa học - công nghệ - kĩ thuật. Ngoài ra với một nước đang trong quá trình
thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và xu thế hội nhập quốc tế -
toàn cầu hoá . Đã có những tác động hết sức tích cực đến nền kinh tế quốc gia.
Bên cạnh đó, cũng đã nảy ra một số vấn đề đặt ra trong xã hội. Quá trình thực
hiện đô thị hoá đã làm nảy sinh một số vấn đề có ảnh hưởng về nhiều mặt đối với
tầng lớp sinh viên hiện nay. Việc “du nhập” vốn văn hoá, tư tưởng từ các nước
phương Tây, các nước phát triển đã tác động đến sinh viên trên nhiều phương
diện từ các hoạt động, suy nghĩ, hành động đến lối sinh hoạt. Sự chuyển tiếp từ
thế hệ này sang thế hệ khác đã đặt ra nhiều vấn đề về việc kế thừa, phát huy vốn
truyền thống văn hoá quý báu, các giá trị trên mặt trận tư tưởng, văn hoá đang
dần mai một và thay vào đó là những nguồn văn hoá “ sính ngoại” . Vấn đề đặt
ra hiện nay là bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá sao cho đảm bảo vẫn phát
triển đất nước trên nhiều mặt, tránh lạc hậu so với các nước trong khu vực và các
nước phát triển trên thế giới. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh. Việc bảo vệ, phát huy vốn truyền thống văn hoá quý báu
của dân tộc đang là vấn đề đáng quan tâm trong thời đại hiện nay đối với chính
sinh viên, tầng lớp tri thức. Ở các trường đại học hiện nay, văn hóa ứng xử thường
được quy định mới văn hóa học đường của từng trường. Có đơn vị xây dựng các

601
nội quy trường lớp… có đơn vị xây dựng quy chế đặc biệt liên quan đến vấn đề
này. Hiện nay trên không gian mang, sinh viên thường sử dung nhiều nhất là
Gmail, facebook, zalo,… những ứng dụng rất hữu ích nhưng nếu không biết cách
xử lý hài hòa trên không gian mạng thì rất dễ dấn đến hậu quả đáng tiếc.
2.3. Vận dụng các đặc trưng về văn hóa ứng xử của Hồ Chí Minh trong việc
ứng xử của sinh viên ở trường Đại học Sư phạm hiện nay
2.3.1. Đặc trưng về văn hóa ứng xử của Hồ Chí Minh
a. Ứng xử khiêm tốn, nhã nhặn, lịch lãm
Trong các cuộc tiếp xúc, Người thường khiêm tốn, không bao giờ đặt mình
cao hơn người khác, mà trái lại, luôn hòa nhã, quan tâm chu đáo đến những người
chung quanh. Đến thăm một lớp học hay dự một buổi nói chuyện, bao giờ Người
cũng chú ý hỏi thăm các vị nhân sĩ, trí thức có danh vọng, các bậc cao tuổi, các
đại biểu phụ nữ, rồi trân trọng mời ngồi lên trên, thể hiện phong cách tao nhã, rất
mực Á Đông. Tiếp khách tại một khách sạn ở Paris năm 1946, Hồ Chí Minh bắt
tay mọi người, nói chuyện thân mật, rất tự nhiên, kèm theo những lời khen, những
câu ca tụng nước Pháp... Người Pháp rất có cảm tình với Bác.
b. Ứng xử chân tình, nồng hậu
Khi gặp gỡ mọi người, với những cử chỉ thân mật, lời hỏi thăm chân tình,
hay một câu nói đùa, Người đã tạo ngay ra một bầu không khí thân mật, thoải
mái, thân thiết như trong một gia đình. Không chỉ đùa vui người khác, đôi lúc
Người cũng nói đùa về bản thân. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khi
đến thăm lớp chỉnh huấn giữa lúc mưa to, cả hội trường vang lên tiếng hô “Hồ
Chủ tịch muôn năm!”, Người ra hiệu im lặng, rồi nói: Muôn năm làm cái gì?
Trăm năm đã là quá. Còn bây giờ, Bác chỉ “muốn nằm” một tí thôi!.
Ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh đạt tới sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm nồng
hậu với lý trí sáng suốt, nên linh hoạt, uyển chuyển, sẵn sàng vì cái lớn mà châm
chước cái nhỏ. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước
Pháp. Khi tới thành phố Biarít, ra sân bay đón Người chỉ có một mình ông Tỉnh
trưởng, sau đó họ đưa Người về nghỉ tại một khách sạn khá sang, nhưng bên
ngoài vẫn còn sơn phết dang dở. Chị Phương Tiếp, một trí thức Việt kiều, được
cử làm phiên dịch cho Người, tỏ ý thắc mắc về sự đón tiếp không được trịnh
trọng: “Tại sao họ chưa có chính phủ mà Cụ đã sang?”. Người trả lời hóm hỉnh:
“Thế nếu có chính phủ rồi, họ đổi ý không mời mình sang nữa thì sao?”. Với tầm
suy nghĩ vừa xa rộng, vừa uyển chuyển, Người đã tranh thủ được một cơ hội đưa
lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc ta tới Paris, vào lúc nước ta chưa được một quốc
gia nào công nhận.

602
c. Ứng xử linh hoạt, chủ động, biến hóa
Ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh đạt tới sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm
nồng hậu với lý trí sáng suốt, nên linh hoạt, uyển chuyển, sẵn sàng vì cái lớn
mà châm chước cái nhỏ.
d. Ứng xử có lý, có tình
Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh uyển chuyển như tư duy khoáng đạt của
Người, nó xa lạ với mọi sự cứng nhắc, khiên cường, sẵn sàng vì cái lớn mà châm
chước cái nhỏ. Đáp từ trong buổi chiêu đãi của Thủ tướng Pháp Biđôn (2/7/1946),
Người nói: “Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng,
và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục,
vật thi ư nhân”. Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, hội nghị sắp tới sẽ đi tới
những kết quả tốt đẹp”.
e. Ứng xử thành tâm, thật lòng
Thành tâm, thật lòng là điểm nổi bật trong phong cách ứng xử Hồ Chí Minh.
Với mọi người, bất kể đó là người Việt Nam hay người nước ngoài, thuộc giai
tầng nào, giới nào, có chính kiến, quá khứ hay hiện tại ra sao,… Hồ Chí Minh
luôn lấy sự thành tâm, thật lòng để ứng xử.
f. Ứng xử tôn trọng, quý mến, thương yêu con người
Tôn trọng, quý mến, thương yêu con người là một điểm tạo nên phong cách
ứng xử Hồ Chí Minh. Các giáo lý của nhiều tôn giáo đều rất coi trọng tình thương
yêu con người. Tuyên ngôn Tôn giáo năm 1517 do Lude (người Đức) đã viết:
“Khởi nguồn chân lý là sự yêu thương và tha thứ”. Còn Phật giáo cho rằng cuộc
sống là từ bi hỷ xả,...
g. Ứng xử khoan dung, độ lượng
Trong giao tiếp, ứng xử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện tấm lòng khoan
dung, độ lượng với tất cả mọi người. Người đã nhắc nhở: “Đối với tất cả mọi
người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo khôn khéo,
biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng
công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người
thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và
làm được”. Đối với những người lầm lạc hay đã từng cộng tác với đối phương,
Người khuyên không nên đào bới chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người
không nguy hiểm lắm thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung.
h. Nụ cười - nét ứng xử văn hóa đặc biệt của Hồ Chí Minh
Ở Hồ Chí Minh, sự lạc quan luôn được thể hiện trong cuộc sống và trong
ứng xử hàng ngày. Người có những nụ cười với nhiều cung bậc khác nhau, được
thể hiện trong văn thơ hoặc truyện ngắn, văn nói, văn chính luận.

