
Chiến tranh Israel - Ả rập năm 1967
1
Israel chuẩn bị chiến tranh
Trong khi khối Ả Rập phân tán, cố giải quyết vấn đề nội bộ của từng miền mà
không xong vì mâu thuẫn quyền lợi, mâu thuẫn chủ trương thì Do Thái rất đoàn
kết, cùng xắn tay củng cố quốc gia, khuếch trương kinh tế, chuẩn bị chiến tranh.
Họ muốn rửa cái nhục năm 1956 và biết rằng còn phải chiến đấu nữa với Ả Rập.
Mỹ giúp cho họ một tỷ sáu trăm triệu Mỹ kim, đồng bào của họ ở Mỹ gửi tiền
về, Tây Đức bồi thường cho họ, rồi tiền riêng của họ, họ bỏ ra một phần lớn mua
khí giới tối tân (như phi cơ Mirage của Pháp), chế tạo khí giới, tàu chiến, tổ chức
lại quân đội huấn luyện sỹ tốt.
Đàn ông phải thi hành quân dịch hai năm rưỡi, phụ nữ không có chồng thi hành
hai năm, nhưng có thể miễn dịch nếu theo Do Thái giáo.
Mỗi năm sỹ tốt hậu bị phải vào trại huấn luyện liên tiếp trong ba mươi ngày và
mỗi tháng luyện tập thêm một ngày nữa, như vậy hễ có lệnh động viên là chỉ từ 24
đến 72 giờ, có thể có được 250.000 quân. Dân số năm 1967 khoảng trên hai triệu
Do Thái với 500.000 Ả Rập và kiều dân, hai hạng sau không phải nhập ngũ. Tỷ số
250.000 quân trên 2.000.000 dân là tỷ số lớn nhất thế giới.
Họ được huấn luyện rất gắt - gắt gấp ba ở Mỹ - được dạy dỗ đàng hoàng về văn
hóa, về nghề nghiệp. Họ lại tổ chức nhiều đạo quân thiếu niên từ 14 đến 18 tuổi để
kiến thiết quốc gia trong thời bình (đắp đường, xây đồn, cày ruộng), bảo vệ quốc
gia trong thời chiến.

Khắp biên giới và cả trong sa mạc Neguev chỗ nào cũng mọc lên các Kibboutz
mà mỗi Kibboutz là một tiền đồn có đủ sức tự vệ trong khi chờ đợi quân cứu viện.
Trừ miền biên giới Sinai và Gaza có quân đội mũ xanh dương của Liên Hiệp Quốc
đóng từ sau chiến tranh Suez (1956), còn ở biên giới Jordani, Syrie, các vụ xung
đột xảy ra thường ngày. Lỗi về bên nào? Có lẽ về cả hai. Có điều chắc chắn là nếu
lỗi về Ả Rập thì Do Thái "trả đũa" dữ dội để tỏ rằng họ mạnh, mà họ mạnh thật.
Năm 1964, thấy Israel mỗi ngày mỗi hăng, khối Ả Rập họp nhau để định thái độ.
Tunisia ôn hòa nhất, muốn dùng chính sách ngoại giao, Syrie kịch liệt nhất chỉ đòi
dùng ngay võ lực, Ai Cập trung dung, đề nghị cứ tạm giữ hiện trạng mà chuẩn bị
chiến tranh cho kỹ đã.
Để hòa giải hai chủ trương kia, Nasser thành lập một cơ quan giải phóng
Palestine mà người cầm đầu là Ahmed Choukein[69]. Cơ quan này có mục đích
quấy rối các miền có dân tản cư Ả Rập tức ở Gaza (40000 dân tản cư trên một thẻo
đất nhỏ độ ba trăm cây số vuông) và Jordani, trên một biên giới dài 350 cây số. Cơ
quan đóng bản dinh ở Jérusalem, rất có nhiều tiền vì hầu hết các quốc gia Ả Rập
đều phải đóng góp một thứ thuế gọi là "thuế hồi hương", nhờ vậy trong hai năm
thành lập được một đạo quân 16.000 người.
Trung Quốc tham dự, tình hình thêm căng thẳng
Từ 1956, Tiệp Khắc, Nga vẫn cung cấp khí giới cho Ai Cập (một phần là đổi
lấy bông vải Ai Cập vì bông Ai Cập rất tốt). Syrie, từ 1960, cung cấp cả cho lính
nữa, gửi nhiều huấn luyện viên quân sự tới ba xứ đó, nhất là Ai Cập. Bắt đầu từ
1965, khối Ả Rập nhận thêm viện trợ quân sự của Trung Quốc.

Trung Quốc giao thiệp với khối Ả Rập từ trước 1955, năm 1965 đã được hầu
hết các quốc gia Tây Á và Trung Á thừa nhận (chỉ trừ Thổ và Liban). Trung Quốc
ở xa bán đảo Ả Rập, không có quyền lợi gì nhiều tại nơi đó, nhưng vẫn muốn gây
ảnh hưởng ở khắp các nước Á, Phi, nhất là từ khi Nga dùng chính sách "xét lại",
muốn "sống chung hòa bình" với Mỹ thì Trung Quốc cho mình là theo đúng
đường lối Marx-Lenin, mới xứng đáng lãnh đạo "đệ tam thế giới", tức khối các
nước nhược tiểu, kém phát triển.
Ở Ả Rập, họ hô hào đả đảo thực dân Mỹ, Anh, đả đảo "Do Thái tự tôn", tranh
giành ảnh hưởng của Nga. Họ viện trợ được rất ít vì họ còn nghèo, thiếu kỹ thuật
gia, nhưng sự tuyên truyền của họ có kết quả (sách báo, phim, trao đổi phái đoàn.
Từ 1956 đến 1965, có 39 phái đoàn Trung Hoa qua Tây Á, Trung Á, và 17 phái
đoàn Tây Á, Trung Á qua Trung Quốc), nên trong các đảng cộng sản Ả Rập đã có
phe theo Trung Quốc.
Hai nước được họ viện trợ hơn cả là Yemen và Syrie. Năm 1963, Syrie được
vay của Trung Hoa 70 triệu quan Thụy sỹ để canh tân kỹ thuật, phát triển kinh tế.
Năm 1964 Yemen được mượn (khỏi trả lời) trên 2 triệu quan Thụy sỹ, và 10 triệu
Anh bảng để mở đường, lập xưởng dệt.
Ở Ai Cập, Iraq, Koweit, ảnh hưởng của Trung Quốc có phần kém. Nhưng khi
Nasser thành lập cơ quan giải phóng Palestine thì Chu Ân Lai hứa hết lòng ủng hộ
Ả Rập chống lại Mỹ và Do Thái tự trị. Choukein qua Bắc Kinh, được Chu Ân Lai
tiếp đón niềm nở, coi như một lãnh tụ Ả Rập, nên về Jérusalem ông ta hăng say,
đòi mở cuộc Thánh chiến diệt Israel và tuyên bố "sẽ sẵn sàng bắn phát súng đầu
tiên". Nasser thấy ông ta đi quá trớn, vội cải chính nhưng đã quá trễ.
Tình hình vì vậy mà cực kỳ căng thẳng: Khắp biên giới Syrie, Jordani, hai bên
gây với nhau, lần nào Israel cũng ở cái thế lợi.

Tháng 5 năm 1967, Ai Cập đòi Liên Hiệp Quốc rút hết quân đội mũ xanh ra
khỏi Sinai và Gaza. Tổng thư ký Liên hiệp Quốc là U Thant chắc hiểu thâm ý của
Nasser là khiêu khích Israel để gây chiến, nhưng ông ta cứ theo đúng hiệp ước:
Một trong hai bên, Ai Cập hoặc Israel, mà yêu cầu rút quân thì ông cho rút quân.
Nasser lại phong tỏa eo biển Tiran trong vịnh Akaba, ngăn các tàu Israel tới
Eliath, cửa ngõ của Israel trên Hồng Hải. Ở Washington, tổng thống Johnson lên
tiếng cảnh cáo Ai Cập làm cho tình hình Tây Á nguy hiểm và phải chịu hết trách
nhiệm. Tức thì Moscow đáp lại: "Kẻ nào dám xâm lăng Tây Á sẽ đụng nhằm lực
lượng của liên minh Ả Rập và sự kháng cự của Liên Xô ". Viên đại sứ Trung
Quốc lại thăm Choukein, khuyến khích 12.000 fedayin (quân cảm tử) của
Choukeiri.
Chiến tranh không thể tránh được. Trước kẻ thù chung là Do Thái, các quốc gia
Ả Rập lại đoàn kết nhau. Đầu tháng sáu 1967, có tới mười hai quốc gia Ả Rập
đứng sau lưng Ai Cập. Tám quốc gia sẵn sàng gửi quân ra mặt trận: Algeri, Maroc,
Kowait, Yemen, Jordani, Syrie. Bốn quốc gia kia Ả Rập Saudi, Lybie, Liban chỉ
đoàn kết vì chính trị thôi. Ngoài ra hai nước Hồi giáo không thuộc khối Ả Rập là
Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan cũng ở xa ủng hộ tinh thần: “Chúng tôi hết thảy đứng về
phía Nasser”.
Chúng ta nhận thấy Liban, mà một nửa dân số theo Ki Tô giáo, thân phương
Tây, nên chỉ ủng hộ lấy lệ là phải rồi. Còn Ả Rập Saudi thì thật không có tinh thần
đoàn kết chút nào hết. Ibn Séoud rồi Saud đều làm chủ thánh địa La Mecque, Saud
lại bỏ ra không biết bao nhiêu tiền để xây dựng thêm điện thờ, giáo đường ở La
Mecque, vậy mà hễ có thánh chiến là họ lại lảng ra. Ibn Séoud không dự chiến
tranh 1948 – 1949 với Do Thái, Saud cũng không dự chiến tranh 1967 này. Họ

đoán trước là thất lợi? Họ ghét Nasser? Hay họ lãnh đô la của Aramco, nên không
muốn mất lòng Mỹ?.
Đáng thương nhất là vua Hussein. Thực tâm ông ta cũng như ông nội của ông,
Abdallah, không thù gì Do Thái, lại thân Anh, Mỹ vì phải sống nhờ viện trợ của
Anh, Mỹ. Nhưng ông ta ở vào cái thế không thể không tham chiến được. 600.000
người Ả Rập di cư và Chonkeiri thúc ông ta phải diệt Do Thái, vả lại biên giới ông
tiếp Israel, Jérusalem một nửa thuộc về Israel, ông không đánh Israel thì Israel
cũng không tha ông. Nasser thấy chưa bao giờ tình hình thuận lợi như lần này:
- Về ngoại giao: Được Nga, Tiệp Khắc ủng hộ. Pháp tuyên bố trung lập.
- Về dân số: Ả Rập có 70 triệu người, Israel chỉ có 2 triệu rưỡi.
- Về quân số: Ai Cập có 270.000 quân, Syrie có 60.000 quân. Iraq, Algeri,
Kowait cũng gửi một số quân tượng trưng qua. Quân hậu bị thì vô số. Israel chỉ có
được nhiều lắm là từ 250.000 tới 300.000.
- Về võ khí, Nga & Tiệp Khắc mấy năm nay đã cung cấp rất nhiều, mấy trăm
phi cơ, mấy ngàn xe thiết giáp, mấy trăm dàn hỏa tiễn.
Nhất định là thắng.
Ả rập đại bại
Không ngờ đại bại, bại một cách nhục nhã, ngay từ mấy giờ đầu.
Ngày 5-6-1967, tám giờ sáng bao nhiêu phi cơ của Israel đều nhất loạt tủa lên
trời, bay về biên giới Ai Cập và chỉ trong tám mươi phút họ phá được hết các phi

