
Chữa bệnh cá bằng thuốc nam
Nhằm tạo một sản phẩm thủy sản đảm bảo an toàn
thực phẩm và khắc phục tình trạng phụ thuộc vào
việc dùng hóa chất, kháng sinh phòng trị bệnh cho
tôm, cá nuôi. Ngày nay, ngư dân đang có xu hướng
sử dụng một số loại thảo dược ( thuốc nam) để phòng
trị bệnh trên tôm cá với ưu điểm tạo được thực phẩm
an toàn, đạt kết quả cao và ít tốn chi phí.
Xin giới thiệu một số cây thuốc dùng để phòng và trị
một số bệnh phổ biến như sau
1. Cây xoan:
Tên khoa học Meliaazedarach L, còn có tên là cây
thù đâu, thuộc loại cây thân gỗ, vỏ xù xì, rụng lá vào
mùa đông, ra hoa, lá, quả vào mùa xuân. Vỏ và lá
xoan có vị đắng, ngâm dưới nước có màu đen.

Công dụng: Diệt trùng mỏ neo và trùng bánh xe đều
đạt kết quả.
Cách dùng: Cành lá xoan non bó thành bó ngâm
trong ao nuôi cá đang có bệnh trùng mỏ neo, trùng
bánh xe, cũng có thể ngâm trong lồng nuôi cá ở phía
đầu nguồn nước với lượng 150 – 200kg lá
xoan/1.000m2 ao có mực nước 1,5 – 2m hoặc 20 –
25kg lá xoan/lồng 8m3.
2. Cây thầu dầu tía:
Ricinus com–munisL, có tên khác là dầu ve (vì hạt có
các vân như viên bi ve), cây đu đủ tía, cây tù ma. Là
cây sống lâu năm, thường được trồng bằng hạt, hoặc
mọc hoang ở các bãi ven sông. Quả thầu dầu có nhiều
gai mềm (như gai quả chôm chôm), hạt có vỏ cứng
màu đỏ tía, mỗi quả 3 – 4 hạt, hạt dùng để ép dầu. Lá
thầu dầu có chất đắng.

Công dụng: Chữa bệnh loét mang, bệnh đốm đỏ cho
cá có kết quả cao.
Cách dùng: Lấy lá thầu dầu bó thành bó ngâm
xuống ao với lượng 250 – 300kg lá thầu dầu/ha ao
nước sâu 1,5 – 2m. Đối với lồng nuôi cá ngâm 15 –
20kg lá thầu dầu/8–10m3 lồng.
3. Cây nghể:
Polygonum hydropiper L. Persicaria hydropiper. Là
loài cỏ mọc hoang dại ở nơi ẩm thấp (thường thấy ở
các đầm lầy) sống quanh năm, thân cây có nhiều
nhánh, lá hình lưỡi mác, có hoa đỏ mọc thành bông ở
đầu cành hay kẽ lá. Cây có vị cay nóng, hắc.
Công dụng: Chữa bệnh viêm ruột và bệnh loét mang,
có hiệu quả nhất là cá giống.

Cách dùng: Lấy thân cây và lá băm nhỏ nấu kỹ lấy
nước, sau đó trộn với thức ăn cho cá ăn. Liều lượng
3kg thân lá nghế tươi/100kg cá giống, cho cá ăn liên
tục 3 – 6 ngày. Cũng có thể dùng lá nghể khô xay
thành bột trộn với thức ăn cho cá, cứ 1 – 2kg nghế
khô/100kg cá giống.
4. Cây rau sam:
Portulacaoler–acea L. Cây thấp, có nhiều nhánh, thân
cây có màu đỏ nhạt, lá hình bầu dục hơi dầy, hoa có
màu vàng mọc ở đầu cành, có thể làm rau luộc, ăn
hơi có vị chua.
Công dụng: Chữa bệnh viêm ruột do vi khuẩn.
Cách dùng: Rửa rau sạch rồi vô trùng bằng nước
muối 3%, rải rau trong khung nổi ở ao hoặc trong
lồng cá, mỗi ngày cho ăn 1 lần, liên tục trong sáu
ngày với liều lượng 1,5 – 3kg rau/100kg cá. Đối với

cá giống cần băm nhỏ rau rắc đều trên mặt ao hoặc
trong lồng cá.
5. Cây tía đỏ:
Pelilla frutescen L Brittvar, là loại thân thảo có
lông, lá mọc đối, mặt trên lá có màu xanh, mặt
dưới lá có màu đỏ tím (đỏ tía, lá có hình trứng,
mép lá có răng cưa, hoa màu trắng nhạt, thân và
lá có mùi thơm, dùng làm gia vị.
Công dụng: Chữa bệnh đường ruột.
Cách dùng: Thân và lá cây băm nhỏ nấu kỹ, lấy nước
trộn với thức ăn tinh rồi cho cá ăn, lượng 0,2 – 0,5kg
lá tía đỏ/1kg thức ăn, cho cá ăn liên tục 3 – 5 ngày.
6. Cây tỏi: Allium Sativum
Công dụng: chữa bệnh đường ruột cho cá.

