
Cơ chế quản trị doanh nghiệp:
Làm đẹp từ bên trong (P.2)
Chừng nào lợi ích của quản trị doanh
nghiệp chưa được nhận thức rõ ràng,
các quy định liên quan sẽ còn bị xem
là gánh nặng và việc áp dụng sẽ chỉ
mang tính hình thức.
Các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp cùng quyền hạn và trách
nhiệm của hội đồng quản trị, ban giám đốc, các tiểu ban đã được
quy định rõ trong Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán
2006 và Quyết định 12/2007/QĐ-BTC về Quy chế quản trị công ty
áp dụng cho công ty niêm yết. Cơ chế quản trị doanh nghiệp
cũng được quy định trong điều lệ và quy chế hoạt động của các
doanh nghiệp.

Như vậy, về hình thức, Việt Nam đã có khuôn khổ pháp lý cho
quản trị doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, vấn đề quản trị doanh
nghiệp chưa được chú trọng đúng mức.
Cơ chế: Đa số doanh nghiệp đã sao chép nguyên văn các điều lệ
mà không có sự cụ thể hóa nào theo đặc điểm của doanh nghiệp
mình. Các văn bản khác bổ sung cho quản trị doanh nghiệp như
chính sách, quy trình, nội quy cũng rất sơ sài. Những quy định về
giao dịch với các bên liên quan, xung đột lợi ích thì không có
hoặc được hiểu một cách mơ hồ.
Quyền lợi cổ đông: Nhiều cổ đông nhỏ không biết hoặc không
thực hiện quyền của mình qua việc tham dự đại hội cổ đông. Kết
quả là nhiều công ty không tổ chức được đại hội cổ đông hoặc tổ
chức rất muộn vì theo quy định, phải có số cổ đông đại diện tối
thiểu 65% số cổ phần có quyền biểu quyết tham dự. Điều này đã
ảnh hưởng đến nhiều quyết định quan trọng không được phép
lấy ý kiến bằng văn bản.

Ngày 14/3/2010, Công ty Cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông đã
không thể tiến hành đại hội cổ đông thường niên 2010 như kế
hoạch vì số cổ đông tham dự không đủ theo quy định. Đại hội cổ
đông thường niên 2010 của Công ty Cổ phần Cáp Thăng Long và
Công ty Cổ phần Đầu tư Kinh doanh Nhà (Intresco) cũng bất
thành vì lý do tương tự.
Đối với doanh nghiệp, việc thông báo đại hội cổ đông thường
niên diễn ra không lâu trước đại hội và việc cung cấp tài liệu về
nội dung đại hội chậm trễ hoặc sơ sài đã khiến cổ đông không có
đủ thời gian để tìm hiểu. Điều này dẫn đến tình trạng biểu quyết
chỉ mang tính lấy lệ. Chẳng hạn, nhiều cổ đông chưa kịp hiểu và
phân tích báo cáo tài chính thì đã phải biểu quyết thông qua.
Một vấn đề khác là nhiều cổ đông nhỏ vẫn cho rằng ban lãnh đạo
là người ra quyết định. Trong khi đó, một số thành viên trong ban
lãnh đạo như tổng giám đốc có thể là cổ đông lớn và do đó khó
tránh khỏi trường hợp các quyết định được đưa ra nhằm phục vụ
lợi ích của họ.

Tổ chức hội đồng quản trị: Mặc dù có quy định tối thiểu 1/3 số
thành viên hội đồng quản trị là độc lập, không tham gia điều hành,
hạn chế thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm chức vụ trong
bộ máy điều hành, nhưng thực tế chỉ có gần 2/3 công ty niêm yết
bầu thành viên hội đồng quản trị độc lập và chỉ có hơn 50% công
ty tách bạch giữa hội đồng quản trị và ban giám đốc.
Nguyên nhân là họ thiếu nhân sự có trình độ và năng lực. Tiêu
chí thành viên độc lập và trách nhiệm cũng không được quy định
rõ ràng. Đó là lý do khiến nhiều hội đồng quản trị chưa thể hiện
được vai trò trong việc đánh giá và phản biện chiến lược, kế
hoạch kinh doanh do ban lãnh đạo đề xuất cũng như quản trị rủi
ro và vì thế làm giảm chức năng giám sát hoạt động quản trị
doanh nghiệp của mình.
Hạn chế về thời gian, khả năng tiếp cận thông tin và thù lao
không thỏa đáng cũng làm giảm tính hiệu quả của hội đồng quản
trị. Số lần họp hội đồng quản trị của các công ty tại Việt Nam
không nhiều, trung bình mỗi quỹ có một cuộc họp. Việc chuẩn bị

và phổ biến trước chương trình nghị sự cho các thành viên ít
được thực hiện. Việc không trả thù lao hoặc trả một cách tượng
trưng cho thành viên hội đồng quản trị cũng không tạo động lực
cho họ thực hiện hết trách nhiệm của mình
Các tiểu ban: Ngoài ban kiểm soát, hầu hết các doanh nghiệp
không có các tiểu ban khác như tiểu ban nhân sự, tiểu ban lương
thưởng, tiểu ban quản trị rủi ro. Ngay cả ban kiểm soát, vốn được
lập ra để đảm bảo tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp,
cũng chỉ mang tính hình thức. Hầu hết các báo cáo của ban kiểm
soát chỉ nhắc lại các con số được kiểm toán, không nêu ra hoạt
động hay dự án cụ thể nào. Nguyên nhân là ban kiểm soát không
có đủ quyền, thiếu tự tin (nhất là khi thành viên ban kiểm soát là
nhân viên cấp dưới) và không đủ chuyên môn. Trong khi đó, việc
các chuyên gia tài chính, kế toán, kiểm toán tham gia làm thành
viên ban kiểm soát của các công ty khác lại chưa phổ biến tại Việt
Nam.

