intTypePromotion=3

CÔNG NGHỆ CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM

Chia sẻ: 986753421 986753421 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:205

0
255
lượt xem
78
download

CÔNG NGHỆ CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực kinh tế quan trọng trong nền nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt). Ðặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta khi có tới hơn 80% dân cư sống dựa vào nông nghiệp. Chăn nuôi đóng vai trò chủ yếu sau: - Chăn nuôi là nguồn cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cao (thịt, trứng, sữa) cho đời sống con người.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CÔNG NGHỆ CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM

  1. Chương I TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI ĐẾN NĂM 2010 1.1. Vai trò và vị trí của ngành chăn nuôi trong nền kinh tế quốc dân Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực kinh tế quan trọng trong nền nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt). Ðặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta khi có tới hơn 80% dân cư sống dựa vào nông nghiệp. Chăn nuôi đóng vai trò chủ yếu sau: - Chăn nuôi là nguồn cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cao (thịt, trứng, sữa) cho đời sống con người. Khi kinh tế ngày càng phát triển, mức sống của con người ngày càng được nâng lên. Trong điều kiện lao động của nền kinh tế và trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cao đòi hỏi cường độ lao động và lao động trí óc ngày càng cao thì nhu cầu thực phẩm từ sản phẩm động vật sẽ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong bữa ăn hàng ngày của người dân. Chăn nuôi sẽ đáp ứng được yêu cầu đó. Một lợn nái một năm đẻ trung bình 2 lứa, mỗi lứa 10 lợn con cai sữa, nếu đưa vào nuôi thịt sau 6 tháng sẽ cho ra 2000 kg thịt lợn. Một con gà mái đàn bố, mẹ trung bình một năm đẻ 250 trứng, ấp nở ra 170 -180 gà con một ngày tuổi, đưa vào nuôi thịt sau 8 tuần thu được 370 - 400 kg thịt gà. Một con bê nuôi thịt sau 10 - 12 tháng cho 250 - 300 kg thịt hơi. Một bò sữa chuyên dụng mỗi năm cho 5000 - 6000 lít sữa... là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho con người. Các sản phẩm chăn nuôi đều là các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein cao và giá trị sinh vật học của protein cao hơn các thức ăn có nguồn gốc thực vật. Vì vậy, thực phẩm từ chăn nuôi luôn là các sản phẩm quý trong dinh dưỡng con người. - Chăn nuôi là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp. Các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp tiêu dùng đều sử dụng nguyên liệu từ chăn nuôi. Thịt, sữa là sản phẩm đầu vào của các quá trình công nghiệp chế biến thịt, sữa, da, lông là nguyên liệu cho quá trình chế biến, sản xuất da dày, chăn, đệm, sản phẩm thời trang. Các loại mỹ phẩm, thuốc chữa bệnh, vaccine phòng nhiều loại bệnh đều có nguồn gốc từ sữa và trứng, nhung (từ hươu). Chăn nuôi cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn cho gia súc... - Chăn nuôi là nguồn cung cấp sức kéo. Chăn nuôi cung cấp sức kéo cho canh tác, khai thác lâm sản, đi lại, vận chuyển hàng hoá trên các vùng núi cao, đặc biệt hiểm trở nhiều dốc. Ngày nay tuy nhu cầu sức
  2. kéo trong cày kéo có giảm đi, nhưng việc cung cấp sức kéo cho lĩnh vực khai thác lâm sản tăng lên. Vận chuyển lâm sản ở vùng sâu, vùng cao nhờ sức kéo của trâu, bò, ngựa thồ, ngựa cưỡi phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng vùng biên giới, du lịch ... - Chăn nuôi là nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt, thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản. Trong sản xuất nông nghiệp hướng tới canh tác bền vững không thể không kể đến vai trò của phân bón hữu cơ nhận được từ chăn nuôi. Phân chuồng với tỷ lệ N.P.K cao và cân đối, biết chế biến và sử dụng hợp lý có ý nghĩa lớn trong cải tạo đất trồng trọt, nâng cao năng suất cây trồng. Mỗi năm từ một con bò cho 8 - 10 tấn phân hữu cơ, từ một con trâu 10 - 12 tấn (kể cả độn chuồng), trong đó 2 - 4 tấn phân nguyên chất. Phân trâu, bò, lợn sau khi sử lý có thể là thức ăn tốt cho cá và các đối tượng nuôi thuỷ sản khác. Bảng 1.1. Thành phần và số lượng phân nguyên chất của một số loại vật nuôi Sản Tổng Loại Nước NPK lượng lượng N (%) P (%) K (%) phân (%) (%) phân cả NPK (kg) năm (kg) (*) Trâu 82 0,313 0,162 0,129 1,604 3650 58,54 Bò 73,8 0,380 0,284 0,992 1,622 2190 36,59 Lợ n 83 0,537 0,930 0,984 2,453 700 17,17 Gà 16 2,461 1,710 - - - - Vịt 17 1,528 1,030 - - - - (*) Trâu, bò chỉ tính lượng phân nhận được trong chuồng; Lợn tính cho một đời lợn thịt. - Chăn nuôi là một mắt xích quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo. Ðể đạt được một nền sản xuất nông nghiệp bền vững và góp phần cho xoá đói giảm nghèo thì chăn nuôi luôn có vị trí quan trọng. Với lợi thế thời gian cho sản phẩm nhanh: lợn thịt 6 tháng/ lứa, gà thịt 8 tuần/ lứa, khả năng sinh sản cao: lợn nái 10 - 12 con/ lứa, 2 lứa/ năm; gà trứng cho 280 - 300 quả/ năm; sử dụng các phụ phẩm từ trồng trọt, chế biến giá trị dinh dưỡng thấp để tạo ra những sản phẩn có giá trị dinh dưỡng cao: thịt, trứng, sữa ... Vì vậy các đối tượng vật nuôi được xem là đối tượng quan tâm phát triển đáp ứng yêu cầu quay vòng vốn vay xoá đói, giảm nghèo. Chăn nuôi tận dụng phụ phẩm của trồng trọt, thuỷ sản tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp V.A.C (vườn, ao, chuồng) hoặc V.A.C.R (vườn, ao, chuồng, rừng) có hiệu quả kinh tế và bảo vệ được môi trường sống. Tận dụng nguồn lao động ở các vùng nông thôn, tham gia vào quá trình sản xuất chăn nuôi, tạo thêm sản phẩm cho xã hội, tăng nguồn thu và mức sống cho mỗi gia đình.
  3. Với vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi và sự quan tâm đúng mức của Đảng, Nhà nước nên giá trị ngành chăn nuôi và tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp ngày càng tăng (bảng 1.2). Bảng 1.2. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi (tỷ đồng)(*) Năm Tổng số Gia súc Gia cầm 1990 10283.2 6568.2 1980.1 1991 10294.5 6481.8 1988.0 1992 11651.0 7344.0 2229.7 1993 12309.1 7854.0 2281.2 1994 12999.0 8499.2 2304.2 1995 13629.2 8848.5 2384.8 1996 14347.2 9301.2 2506.5 1997 15465.4 9922.6 2690.5 1998 16204.2 10467.0 2835.0 1999 17337.0 11181.9 3092.2 2000 18505.4 11919.7 3295.7 2001 19282.5 12298,3 3384.9 2002 21199.7 13319.1 3712.8 2003 22944.4 14422.2 4091.2 (*) Giá so sánh năm 1994 Trong những năm tới chăn nuôi sẽ được đẩy mạnh phát triển, nhất là chăn nuôi lợn có tỷ lệ nạc cao, chăn nuôi bò lấy sữa, lấy thịt, chăn nuôi gia cầm theo hướng công nghiệp thịt, trứng, nâng cao năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi. Dự kiến, năm 2005 tổng đàn trâu đạt 3,2 - 3,3 triệu con, đàn bò 4,5 - 5,2 triệu con, đàn lợn 25 - 26 triệu con, đàn gia cầm 250 - 300 triệu con. Sản phẩm thịt hơi 2,58 - 2,8 triệu tấn, sản lượng sữa đạt 120 nghìn tấn, sản lượng trứng 5 - 5,5 tỷ quả. Phát triển mạnh đàn bò sữa, hiện có 52 ngàn con, dự kiến 2005 có 80 - 100 nghìn con, sản lượng sữa tươi đạt 120 nghìn tấn. Nâng tỷ lệ tự túc sữa tươi trong nước từ 8 - 9% hiện nay lên 20% năm 2005. Hiện tại giá nhập sữa đã giảm từ 1500 - 1600 USD/tấn xuống còn 1350 USD/tấn. 1.2.Tình hình phát triển chăn nuôi thời gian qua 1.2.1. Tình hình chung Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, trải dài từ vĩ tuyến 805 đến 2305 với diện tích tự nhiên gần 331.000 km2, dân số gần 82 triệu người, được chia thành 7 vùng sinh thái, mỗi vùng có những đặc điểm riêng gắn với cơ cấu vật nuôi, cây trồng rất khác nhau và đa dạng. Tỷ lệ diện tích và dân số phân bổ theo các vùng sinh thái (bảng 1.3) Bảng 1.3. Diện tích và dân số theo các vùng sinh thái
  4. Diện tích (%) Dân số (%) Cả nước 100 100 1. Miền núi trung du phía Bắc 32,0 17,0 2. Đồng bằng sông Hồng 3,6 19,7 3. Khu 4 cũ 15,4 13,4 4. Duyên hải miền Trung 13,5 10,4 5. Tây Nguyên 16,5 4,5 6. Đông Nam Bộ 7,0 13,2 7. Đồng bằng sông Cửu Long 12,0 21,8 Đất nông nghiệp khoảng 7,4 triệu ha, trong đó đất trồng cây hàng năm là 5,5 triệu ha (riêng lúa chiếm 4,2 triệu ha); đất trồng cỏ chăn nuôi 0,3 triệu ha; đất mặt nước dùng cho sản xuất nông nghiệp chỉ có 0,27 triệu ha. Đất lâm nghiệp có 9,6 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên 8,8 triệu ha, rừng trồng khoảng 0,8 triệu ha. Đất chưa sử dụng khoảng 14 triệu ha, trong đó có 9 triệu ha đất trống, đồi núi trọc. Sản lượng lương thực tăng nhanh trong thời gian gần đây đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trong thập kỷ 80 trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 - 3 thế giới. Trong 16 năm xuất khẩu gạo (1989 - 2004) Việt Nam đã cung cấp cho thị trường thế giới hơn 45,14 triệu tấn gạo, thu về 10,77 tỷ USD. An ninh lương thực được đảm bảo và là điều kiện tốt để thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển. Năm 1995, tổng sản lượng lương thực qui thóc là 27 triệu tấn, trong đó 24 triệu tấn thóc, 3 triệu tấn màu (1,2 triệu tấn ngô, 1,8 triệu tấn khoai lang, sắn), bình quân lương thực trên đầu người là 364,8 kg, xuất khẩu trên 2 triệu tấn gạo. Năm 1999 đạt 32 triệu tấn lương thực. Năm 2004 mặc dù thời tiết không thuận lợi, sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn đạt sản lượng 39,3 triệu tấn lương thực và xuất khẩu 4,55 triệu tấn gạo. Sản xuất lương thực đạt sản lượng cao đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm và đưa chăn nuôi phát triển nhanh và ổn định. Năm 1994, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP cả nước là 35,4% (công nghiệp 26,6%, dịch vụ 38%). Tỷ trọng chăn nuôi trong tổng giá trị sản lượng nông nghiệp chiếm 25,82%. Trong cơ cấu tổng thu về sản xuất kinh doanh Nông-Lâm-Thuỷ sản chiếm 75,6%, công nghiệp-xây dựng chiếm 10,6%, thu từ ngành nghề dịch vụ 13,8%. Năm 2003, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn đã có sự chuyển dịch tích cực. Cơ cấu tổng thu từ ngành trồng trọt chiếm 68,5%, thu từ ngành chăn nuôi chiếm 29,5%, thu từ các hoạt động dịch vụ nông nghiệp chỉ 2%. Trong ngành trồng trọt, tỉ lệ thu từ cây hàng năm chiếm 77,8%, thu từ cây lâu năm 19,7%. 1.2.2.Tình hình phát triển chăn nuôi
  5. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới, ngành chăn nuôi đã đạt được những kết quả đáng kể. 1.2.2.1. Số lượng vật nuôi Thống kê đàn gia súc, gia cầm cả nước trong thời gian qua (Bảng 1.4) Bảng 1.4. Số lượng gia súc, gia cầm cả nước qua các năm Năm Trâu TS.Bò Bò sữa Lợn TS.Gia Gà (1000 Dê (1000 (1000 (con) (1000 cầm con) (con) con) con) con) (1000 con) 1980 2313,0 1664,2 4843 10001,2 61522 48391,0 173900 1981 2380,3 1771,7 10493,4 67001 53847,4 196500 1982 2445,1 1944,4 10784,9 73359 56861,3 224900 1983 2500,2 2173,5 11201,9 79165 60721,5 271800 1984 2549,2 2148,0 11759,9 85857 63472,2 354700 1985 2590,2 2597,6 5800 11807,5 87803 64816,7 402600 1986 2657,6 2783,6 11795,9 96129 69861,8 432400 1987 2752,7 2979,1 12050,8 95424 69098,4 413800 1988 2806,8 3126,6 11642,6 94063 72385,4 410700 1989 2871,3 3201,7 12217,3 100962 77064,7 386800 1990 2854,4 3120,8 11000 12260,5 103820 80184,0 372800 1991 2855,6 3151,0 12100 12183,2 105259 80578,2 312290 1992 2883,4 3193,8 13080 13888,7 117876 89704,9 312490 1993 2960,8 3333,0 15000 14873,9 126399 95087,2 353200 1994 2971,1 3466,7 16500 15569,4 131669 99627,1 422802 1995 2963,1 3638,7 18700 16037,4 140004 107958,4 550174 1996 2953,7 3800,3 22563 16921,4 151406 112788,7 512812 1997 2943,6 3904,8 24501 17639,7 160550 120567,0 51498 1998 2951,3 3984,2 26645 18132,1 167890 126361,0 514810 1999 2955,7 4063,5 29401 18885,7 179323 135760,0 516000 2000 2897,2 4127,9 34982 20193,7 198046 147050,0 543860 2001 2818,3 3899,1 41241 21765,9 216010 158037,0 569152 2002 2814,4 4062,9 55800 23210,0 233290 159450,0 621013 2003 2834,9 4397,3 80000 25461,1 254060 203650,0 780331 2004 2870,0 4910,0 95800 26140,0 218150 196363,5 1020200
  6. Số liệu trên bảng cho thấy: năm 1980, đàn trâu có hơn 2,3 triệu con; đàn bò gần 1,7 triệu con trong đó bò sữa 4.843 con; đàn lợn hơn 10 triệu con; đàn dê 173.900 con. Tổng đàn gia cầm 61,5 triệu con, trong đó đàn gà là 48,4 triệu con. Năm 1990, đàn trâu 2,85 triệu con; đàn bò 3,12 triệu con (bò sữa 11.000 con); đàn lợn 12,26 triệu con; đàn dê 372.800 con; tổng đàn gia cầm 103,8 triệu con. Năm 1999, đàn trâu 2,95 triệu con; bò 9,06 triệu con (bò sữa 29.400 con); lợn hơn 18,88 triệu con; gia cầm 179,32 triệu con; đàn dê 516.000 con. Năm 2003, đàn trâu có xu hướng giảm chỉ còn hơn 2,8 triệu con; các đối tượng gia súc, gia cầm khác tiếp tục tăng: đàn bò đạt 4,4 triệu con (bò sữa: 80.000 con); đàn lợn 25,5 triệu con; gia cầm 254 triệu con. Năm 2004, đàn gia súc các loại đều tăng, riêng đàn gia cầm giảm do ảnh hưởng của dịch cúm vào cuối năm 2003 đầu năm 2004 và còn ảnh hưởng đến các năm sau. Tốc độ tăng đàn gia súc, gia cầm trong 10 năm qua tính trung bình 3,0 - 6,0%, trong đó đàn lợn tăng 6,77%; bò tăng 4,1% (bò sữa tăng mạnh 48,06%); gia cầm tăng 6 - 9%/năm; riêng đàn trâu không tăng và ở một số vùng có xu hướng giảm (-0,04%). 1.2.2.2. Sản phẩm chăn nuôi Sản phẩm chăn nuôi nhận được từ đàn vật nuôi nói trên hàng năm đều tăng (Bảng 1.5). Năm 1980 là 448.400 tấn thịt hơi các loại (trong đó thịt lợn 287.000 tấn); trứng hơn 1 tỷ quả; sữa 3200 tấn. Năm 1990, thịt hơi các loại là 1.007.900 tấn (thịt lợn 729.000 tấn; gia cầm 167.900 tấn; trâu bò 111.900 tấn); trứng gần 1,9 tỷ quả; sữa 9300 tấn. Năm 2002 tương ứng là 2.146.300 tấn (lợn 1.653.600 tấn; thịt gia cầm 338.400 tấn; thịt trâu bò 154.200 tấn ); trứng 4,53 tỷ quả; sữa 95.000 tấn. Năm 2003, thịt hơi 2,3 triệu tấn (thịt lợn chiếm 77%, thịt gia cầm 15%, thịt trâu bò 8%); trứng 4,85 tỷ quả; sữa 96,600 nghìn tấn. Tốc độ tăng sản phẩm chăn nuôi hàng năm 4,4 - 17,3%. Bảng 1.5. Sản phẩm chăn nuôi cả nước qua các năm Năm Tổng số Thịt lợn Thịt Thịt Trứng Sữa (Tấn) gia trâu bò (1000 (Tấn) cầm (Tấn) quả) (Tấn) 1980 448400 287000 1103200 3200 1981 510900 345000 1155000
  7. 1982 643400 461400 1265600 1983 691900 510600 1335800 1984 715500 527000 1402500 4216 1985 748600 560300 1472000 4342 1986 833195 625576 1674100 1987 890328 665725 147246 77357 1720000 1988 886125 652846 153767 79512 1759700 1989 956984 714189 1807200 9000 1990 1007900 729000 167900 111900 1896400 9300 1991 1015200 715500 146380 123388 2016900 9352 1992 1078866 797156 154435 127275 2269086 13043 1993 1171538 878380 169878 123280 2346910 15073 1994 1235933 937730 186411 111792 2672108 16234 1995 1322097 1006918 197084 118064 2825025 20925 1996 1408320 1076004 212954 119362 3083777 27856 1997 1515004 1166215 226100 122653 3168646 30768 1998 1608476 1230621 250100 127755 3226666 32000 1999 1711724 1318196 261808 131720 3442863 39692 2000 1835923 1408961 286513 140449 3708605 52172 2001 1989291 1513279 322602 153410 4161844 64703 2002 2146300 1653600 338400 154200 4530000 95000 2003 2300000 1795400 372720 160600 4854000 96600 Mức sản xuất sản phẩm chăn nuôi/đầu người/năm tăng qua các giai đoạn (Bảng 1.6), nhưng đang còn mức rất thấp (chỉ bằng 1/2 - 1/3 lượng tiêu thụ bình quân của các nước đang phát triển). Bảng 1.6. Sản phẩm chăn nuôi sản xuất bình quân/đầu người/năm 1995 1997 2003 Năm Kg % Kg % Kg % Thịt hơi các loại 17,746 100 19,589 100 22,4 100 Trong đó: +Thịt lợn hơi 13,51 76,1 15,04 76,8 17,25 77,0 +Thịt gia cầm hơi 2,64 14,8 2,95 15,1 3,36 15,0 +Thịt trâu bò hơi 1,58 8,9 1,6 8,1 1,79 8,0 Trứng (quả) 37,9 41,3 45,0
  8. Sữa (ml) 280,8 407,6 500,0 1.2.2.3. Tình hình chăn nuôi lợn Lợn là loài vật nuôi có khả năng lợi dụng tốt các phụ phẩm công-nông nghiệp, khả năng sinh sản cao, quay vòng khá nhanh, cho phân bón nhiều và tốt.Vì vậy chăn nuôi lợn đã trở thành nghề truyền thống của nông dân và là ngành chăn nuôi chủ yếu ở nước ta. Lợn được nuôi phổ biến ở tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp, đặc biệt tập trung nhiều ở vùng đồng bằng sông Hồng: 22,5% tổng số đầu con và 26% tổng sản phẩm, khu 4 cũ tương ứng 16,4% và 13%, đồng bằng sông Cửu Long: 15% và 22%. Như vậy, riêng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đàn lợn chiếm 37,5% đầu con và 48% sản lượng thịt lợn của cả nước. Đàn lợn vẫn được nuôi chủ yếu theo phương thức bán thâm canh trong nông hộ (90 - 95%) với quy mô nhỏ (3 - 5 con/hộ), số hộ nuôi quy mô lớn hơn từ 6 con trở lên chỉ chiếm 1,8%. Một tỷ lệ nhỏ đàn lợn (5 - 10%) được nuôi trong các trang trại (200 - 300 con) theo phương thức thâm canh (công nghiệp). Lợn vẫn là nguồn cung cấp thịt chính (77% tổng lượng thịt các loại), nhưng tiêu thụ trong nước là chủ yếu, mỗi năm chỉ xuất khẩu được 5000 - 10000 tấn thịt. Cơ cấu giống lợn hiện đang nuôi chủ yếu vẫn là các giống lợn nội. Ở phía Bắc đàn lợn nái gần 1,5 triệu con trong đó nái Móng Cái chiếm 40 - 45%, lợn nái lai 32 - 35%, các giống địa phương khác 10 - 15%, lợn nái ngoại hoặc nái lai nhiều máu ngoại chỉ 1 - 2%. Ở phía Nam 0,73 triệu con lợn nái thì lợn nái lai nhiều máu ngoại và lợn Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu chiếm tỷ lệ cao (70 - 80%), lợn nái ngoại chiếm 10 - 15%, còn lại là các giống địa phương khác. Trong đàn lợn nuôi thịt, tỉ lệ lợn lai 50% máu ngoại (con lai F1) là 67%, lợn nội 30%, lợn ngoại và nhiều máu ngoại mới chiếm 3%. 1.2.2.4. Tình hình chăn nuôi gia cầm Gia cầm là loài vật nuôi có khả năng sinh sản nhanh nhất, vòng đời ngắn nhất, vốn đầu tư ít và quy mô chăn nuôi linh hoạt, vì vậy trong những năm gần đây gia cầm là đối tượng nuôi quan trọng trong các chương trình xoá đói giảm nghèo. Gia cầm được nuôi ở tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp. Đàn gà 75% tập trung ở các tỉnh phía Bắc (từ khu 4 cũ trở ra), trong khi đàn vịt lại phân bố tập trung nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long (hơn 50% tổng đàn vịt cả nước). Phần lớn gia cầm (70 - 80%) được nuôi theo phương thức quảng canh, bán thâm canh trong các nông hộ, mỗi hộ 20 - 30 con, một số ít nuôi thâm canh (công nghiệp) trong các trang trại với quy mô 1000 - 2000 con. Thịt gia cầm sản xuất ra chiếm 15% lượng thịt các loại, chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước. Trứng gia cầm sản xuất ngày càng tăng nhưng còn ở mức độ thấp (dưới 50 quả/người/năm). Các giống gia cầm nuôi chủ yếu vẫn là các giống địa phương (80%) năng suất thấp, các giống cao sản nhập nội năng suất cao hãy còn ít (20%). Những năm gần đây xu hướng chăn nuôi các giống gà thả vườn, lông màu đang được quan tâm và phát triển với tốc độ nhanh. 1.2.2.5. Tình hình chăn nuôi trâu bò
  9. Trâu, bò là các loài vật nuôi ăn cỏ, có thể lợi dụng tốt đồng cỏ và các phụ phẩm nông - công nghiệp để tạo thành thịt, sữa, sức kéo. Đàn bò phân bố ở nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau nhưng tập trung ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (45,5% tổng đàn), 5 vùng sinh thái còn lại chiếm 54,5%, riêng Tây Nguyên đất đai rộng, điều kiện thuận lợi nhưng đàn bò chỉ chiếm 10,8%. Đàn trâu phân bố tập trung ở miền núi và trung du phía Bắc ( 52%), tiếp đó là khu 4 cũ ( 22%). Đàn trâu, bò phần lớn nuôi trong nông hộ (2 - 3 con/hộ) theo phương thức quảng canh, bán thâm canh. Bò sữa được quan tâm phát triển mạnh trong những năm gần đây chủ yếu ven các thành phố lớn: Hà Nội, Hồ Chí Minh và được nuôi thâm canh. Thịt trâu, bò chỉ chiếm 8% tổng lượng thịt các loại, lượng sữa sản xuất ra còn ít, mới chỉ chiếm 8,6% lượng sữa tiêu thụ ở Việt Nam. Một số vùng trâu, bò được dùng để cày, kéo nhưng nhu cầu cung cấp sức kéo (đặc biệt ở trâu) ngày càng giảm. Cơ cấu giống bò chủ yếu vẫn là bò nội (bò vàng Việt Nam) chiếm 85% tổng đàn với tầm vóc nhỏ, năng suất thịt sữa đều thấp. Khối lượng trưởng thành bò cái 180 - 200 kg/con, bò đực 210 - 250 kg/con, tỉ lệ thịt xẻ 40 - 45%, bò lai Zêbu chiếm 14,4%, các giống bò cao sản nhập nội mới chiếm 0,5% tổng đàn bò. 1.2.2.6.Tình hình chăn nuôi các đối tượng vật nuôi khác Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hướng tới chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, ngành chăn nuôi đã được quan tâm và phát triển đa dạng hơn. Ngoài các vật nuôi truyền thống: lợn, trâu bò, gà thì dê, cừu, ngan, vịt, chim cút, bồ câu, đà điểu… cũng được chú ý đầu tư phát triển. Đồng thời với việc bảo tồn quỹ gen các gia súc, gia cầm địa phương, việc nhập nội các gia súc gia cầm cao sản phục vụ phát triển chăn nuôi thâm canh, sản xuất hàng hoá đã được triển khai thực hiện như: bò sữa cao sản từ Úc; lợn có tỷ lệ nạc cao từ Bỉ, Nhật; gà lông màu từ Trung Quốc; vịt cao sản thịt, trứng từ Anh, Thái Lan; ngan Pháp; bồ câu Pháp…đã tạo nên sự đa dạng trong sản phẩm chăn nuôi ở nước ta, đang góp phần tích cực trong các chương trình xoá đói giảm nghèo vươn lên làm giàu từ chăn nuôi và đã mở ra bước phát triển mới của ngành chăn nuôi. 1.3. Định hướng phát triển chăn nuôi đến năm 2010 1.3.1. Mục tiêu sản xuất chăn nuôi đến năm 2010 + Mục tiêu chung của phát triển chăn nuôi là: - Đảm bảo nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và sản xuất được thực phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu. - Cung cấp phân bón cho cây trồng và nguyên liệu khác cho công nghiệp. - Tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện thu nhập và điều kiện sống cho các vùng nông thôn. Khai thác hiệu quả diện tích bãi chăn và phụ phẩm nông-công nghiệp.
  10. - Góp phần xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành chăn nuôi. - Tăng dần giá trị ngành chăn nuôi so với tổng giá trị nông nghiệp lên 30% vào năm 2010, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp. + Mục tiêu cụ thể Năm 2010, Việt Nam đặt mục tiêu tổng đàn lợn 30 triệu con, đàn trâu 3,5 triệu con, đàn bò 4,6 triệu con, đàn gia cầm 350 triệu con. Sản phẩm chăn nuôi tính theo đầu người (tính cho 90 triệu dân): thịt 42 kg, trứng 77 quả, sữa 2500ml. Trong quá trình phát triển chăn nuôi coi trọng năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, an toàn (thực phẩm sạch) và khả năng cạnh tranh. 1.3.2. Định hướng phát triển chăn nuôi (2001-2010) Nghị quyết về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của Chính phủ ban hành ngày 15/6/2000 chỉ rõ: “Phát triển đàn lợn phù hợp với nhu cầu của thị trường tiêu dùng trong nước, một số vùng chăn nuôi lợn chất lượng cao để xuất khẩu. Phát triển chăn nuôi bò theo hướng thâm canh có năng suất cao, phấn đấu trong 10 năm tới có 200000 con bò sữa, trong đó 100000 con bò cái vắt sữa với sản lượng 300000 tấn sữa tươi/năm. Phát triển đàn gia cầm chủ yếu là gà vịt.” Từ định hướng phát triển chung nói trên, định hướng phát triển cụ thể các loài vật nuôi như sau: 1.3.2.1. Chăn nuôi lợn + Hướng phát triển Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi lợn ở tất cả các vùng để cung cấp thịt (2 - 6 triệu tấn/năm), cung cấp phân bón cho trồng trọt… Thịt lợn dùng để tiêu thụ trong nước là chính (70 - 75%), đồng thời một phần thịt lợn cho xuất khẩu (25 - 30%). + Biện pháp - Cải tiến phương thức chăn nuôi lợn truyền thống và phát triển các trang trại chăn nuôi lợn theo phương thức công nghiệp tại các tỉnh vùng trung du Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, miền Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Tìm kiếm thị trường xuất khẩu thịt lợn. - Tiếp tục nạc hoá đàn lợn bằng cách nuôi lợn ngoại và lợn lai nhiều máu ngoại, đưa đàn lợn có tỉ lệ nạc trên 50% lên 25 - 30% tổng đàn. Đồng thời lưu ý xử lý chất thải, phòng chống ô nhiễm môi trường với các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung có quy mô lớn. 1.3.2.2.Chăn nuôi gia cầm + Hướng phát triển
  11. Phát triển chăn nuôi gà thả vườn, gà có chất lượng cao để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, đồng thời coi trọng phát triển chăn nuôi gà công nghiệp chuyên dụng thịt, trứng cung cấp cho nhu cầu trong nước. Lưu ý phát triển chăn nuôi gà ở vùng trung du, đồng bằng và ven đô thị. Phát triển chăn nuôi vịt tập trung ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh duyên hải để cung cấp thịt, trứng, lông cho thị trường trong và ngoài nước. + Biện pháp - Cải tiến phương thức chăn nuôi truyền thống ở các nông hộ, đồng thời xây dựng các cơ sở chăn nuôi gia cầm công nghiệp. - Gây tạo giống gà thả vườn, gà chất lượng cao về thịt, trứng. Tiếp tục nhập nội các giống gà công nghiệp có năng suất thịt, trứng cao. 1.3.2.3. Chăn nuôi trâu bò + Hướng phát triển Phát triển chăn nuôi trâu bò ở miền núi vùng Đông Bắc, Tây Bắc và các tỉnh Bắc Trung Bộ để lấy thịt, sức kéo và cung cấp phân bón cho trồng trọt. Chọn lọc nhân thuần đàn trâu nội. Phát triển chăn nuôi bò thịt ở các vùng có đồng cỏ và nhiều phụ phẩm nông-công nghiệp, đặc biệt vùng Trung Bộ và Tây Nguyên. Thịt bò phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước là chính nhưng cần tìm kiếm thị trường cho xuất khẩu. Phát triển chăn nuôi bò sữa ven các thành phố lớn và khu công nghiệp (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…) và ở 2 cao nguyên Mộc Châu và Lâm Đồng để có thể tự túc 25% nhu cầu về sữa tiêu thụ trong nước. + Biện pháp - Cải tiến phương thức chăn nuôi truyền thống ở các nông hộ, đồng thời xây dựng các cơ sở chăn nuôi bò thịt, bò sữa hiện đại. - Tiếp tục Zêbu hoá đàn bò. Nhập một số giống bò chuyên dụng sữa, chuyên dụng thịt năng suất cao. Tiến hành lai tạo giữa bò chuyên dụng sữa, chuyên dụng thịt với bò đã được Zêbu hoá. Với các đối tượng vật nuôi khác tiếp tục quan tâm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi ngựa ở vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc để lấy sức kéo, thịt; dê để lấy thịt sữa; cừu lấy thịt, lông; ngan, ngỗng, các động vật quý hiếm khác như đà điểu, cá sấu…ở những nơi có điều kiện và các vùng thích hợp.
  12. Chương II GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG VẬT NUÔI Trong chăn nuôi giống là tiền đề để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Làm tốt công tác giống cho phép tăng nhanh số lượng đàn gia súc, tạo những tiền đề hết sức quan trọng nhằm nâng cao phẩm chất đàn gia súc, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi. 2.1. Nguồn gốc và sự thuận hoá vật nuôi Gia súc, gia cầm là những vật nuôi thuộc lớp có vú, lớp chim được hình thành do quá trình lao động sáng tạo của con người và trên bản thân con vật có dấu vết của quá trình lao động sáng tạo đó. 2.1.1. Nguồn gốc vật nuôi Tất cả vật nuôi ngày này đều bắt nguồn từ thú hoang dã đã được thuần hóa nhờ sức lao động và trí thông minh sáng tạo của con người. Người ta cho rằng chó là con vật được thuần hóa đầu tiên, nhưng ý kiến này chưa thực xác đáng. Gần đây người ta cho rằng dê, cừu là những gia súc được thuần hóa sớm nhất mà nguồn gốc chúng là dê rừng. Bò nhà hiện nay có 2 nhóm: nhóm không có u có nguồn gốc từ bò rừng “Tua”, sống ở rừng châu Âu, châu Á, Bắc Phi. Các địa điểm thuần hóa bò này là Trung Á, Ấn Ðộ, Malaysia, Bắc Phi và Nam châu Âu. Nhóm bò có u hiện nay đang phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, nguồn gốc của nó có thể là một dạng đặc biệt hoặc do đột biến di truyền của bò rừng Tua. Bò rừng có lông mềm, dài, thẳng, trán có xoáy ốc, sắc lông đen hoặc nâu xám có sọc vàng dọc sống lưng, sừng dài, đen, cong như cánh cung, bò rừng rất khỏe và nhanh nhẹn, khá dữ tợn, con cái cao 150 - 170 cm, con đực cao 175 - 200 cm. Trâu nhà hiện nay có nguồn gốc từ trâu rừng Ấn Ðộ, từ đó trâu được thuần hóa lan theo 2 hướng: hướng Ðông Nam Á và hướng châu Phi, Trung cận đông, Nam châu Âu. Có thể chia trâu làm 2 nhóm: nhóm sừng ngắn, thường gặp ở Nhật, Bắc Trung Quốc, Ai Cập, Ý, Nam Liên Xô (cũ), nhóm sừng dài thường gặp ở Miến Ðiện, Nam Trung Quốc, Việt Nam. Lợn nhà có nguồn gốc từ lợn rừng châu Âu và lợn rừng châu Á, chúng được thuần hóa ở nhiều địa điểm khác nhau: Ấn Ðộ, Ban tích, Siberi, Anpơ, Ðông Nam Á trong đó có Việt Nam. Lợn rừng thường có da dày, lông cứng, màu xám đen hoặc sọc nâu sẫm, chân khỏe, chạy nhanh, mõm dài, khỏe, con đực có răng nanh dài. Gà nhà có nguồn gốc từ gà rừng, gà rừng thường bé nhỏ, đẻ theo mùa vụ, trứng nhỏ, gà rừng có thể bay cao và bay khá xa. Gà nhà được thuần hóa đầu tiên ở Ấn Ðộ. Các loại gia cầm khác như ngan được thuần hóa ở châu Phi, gà tây ở Mêhicô, ngỗng ở châu Á.
  13. Ngựa là con vật được thuần hóa muộn nhất: cuối thời kỳ đồ đá, bước sang thời kỳ đồ đồng trong khi các loại gia súc khác được thuần hóa vào đầu thời kỳ đồ đá. Sự thuần hóa có thể xảy ra cùng một lúc, lẻ tẻ ở nhiều nơi, kết quả là đã tạo được những nhóm gia súc xuất phát. Bán đảo Ðông Dương, trong đó có Việt Nam, là một nơi thuần hóa, là nơi xuất phát của nhiều nhóm gia súc kết quả của quá trình lao động sáng tạo của tổ tiên chúng ta. 2.1.2. Sự thuần hóa vật nuôi Thuần hóa vật nuôi thực chất là quá trình lao động sáng tạo của con người. Trong quá trình đó, con người có những tác động cơ bản đến thú hoang, tạo nên những thay đổi ở thú hoang, các tác động cơ bản bao gồm: - Con người thay đổi địa bàn hoạt động của thú hoang, hạn chế khả năng di động của chúng, làm đảo lộn tập quán sinh sống vốn đã bảo thủ của thú hoang. Tự tìm kiếm lấy thức ăn, sống thành bầy đàn chung đụng nhau, luôn ẩn náu, lẩn tránh kẻ thù... thay đổi địa dư phân bố và điều kiện khí hậu sinh sống của thú hoang. - Con người tác động bằng điều kiện dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm không ngừng cải biến phẩm chất của thú hoang phù hợp với mong muốn của con người. - Con người không ngừng chọn lọc, nhân giống, bồi dưỡng những đặc tính có lợi, củng cố, nâng cao những đặc tính đó. Do những tác động làm lay động cải biến tính di truyền vốn có của thú hoang, kết hợp với những tác động bằng điều kiện ngoại cảnh được tiến hành trong một quá trình lâu dài, thú hoang dã có những biến đổi chủ yếu bao gồm: - Thay đổi về tầm vóc, tính tình. Tầm vóc ngoại hình thú hoang rất phù hợp với bản năng sống hoang dã của chúng, khỏe mạnh, hung tợn, di động nhanh, thích ứng cao với ngoại cảnh. Trong khi đó, gia súc ngay sau khi thuần hóa tầm vóc nhỏ đi, tính tình hiền lành, dễ sai khiến, di động chậm, thích ứng với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng của con người. Về sau, do điều kiện nuôi dưỡng của con người ngày càng hoàn thiện, do tác động của chọn lọc mà tầm vóc của gia súc được tăng lên hoặc tầm vóc lớn, nhỏ theo định hướng chọn tạo giống của con người - Thay đổi về hình dáng, cấu tạo và chức năng các bộ phận: thú hoang thường có da dày, lông cứng, xương lớn nhưng gia súc thường có da mỏng, lông mịn, xương nhỏ hơn. Những bộ phận trực tiếp tạo nên sản phẩm càng có những biến đổi rõ rệt hơn. Chẳng hạn, bầu vú bò rừng kém phát triển, lượng sữa của chúng chỉ đủ nuôi con, trong khi bầu vú bò sữa rất lớn, có thể cho sữa gấp 5 - 6 lần nhu cầu của bê con. Vì vậy, hình dáng bò sữa thường có hình “nêm” do bầu vú rất phát triển, cơ thể phát triển mạnh ở phần sau. Lợn rừng có đầu và vai phát triển ngược lại lợn nhà, phần lưng, mông, đùi là phần thịt có giá trị nhất lại phát triển mạnh nhất.
  14. -Thay đổi về khả năng sản xuất: đây chính là mục tiêu và cũng là biểu hiện rõ rệt nhất của sự thuần hóa. So với thú hoang, sức sản xuất của gia súc tăng hơn rất nhiều: gà rừng đẻ 20 - 30 trứng/năm trong khi gà nhà đẻ 200 - 300 trứng/năm, lợn rừng đẻ 5 - 6 con/năm trong khi lợn nhà đẻ 10 - 12 con/lứa, một năm 1,8 - 2,5 lứa. - Hình thành nên các phẩm giống gia súc, gia cầm theo các hướng sản xuất khác nhau. Cho tới nay, từ 15 loài động vật có vú, 10 loài chim khởi đầu, con người đã thuần hóa, gây chọn được hàng nghìn phẩm giống mới rất đa dạng. Về bò: các loại bò sữa (Holstein Friesian, Jersey, Brown Swiss…), bò thịt (Aberdin Angus, Santa Gertrudis, Hereford...), bò kiêm dụng sữa thịt (Ximantan…), bò cày kéo... Về lợn: lợn hướng nạc (Landrace, Yorkshire...), lợn hướng mỡ (Ỉ, Lincon...), lợn kiêm dụng. Về gà: có gà trứng (Leghorn), gà thịt (Cornish) gà kiêm dụng trứng thịt (Rhode Island, Newhampshine, Sussex...), các giống gà thả vườn… 2.1.3. Khái niệm về giống vật nuôi 2.1.3.1. Ðịnh nghĩa Khái niệm về giống vật nuôi trong chăn nuôi khác với khái niệm giống trong phân loại sinh học. Khái niệm này dùng để biểu thị một nhóm vật nuôi có nguồn gốc gần nhau và có chung một số tính trạng nhất định. Theo quan điểm sinh học có thể định nghĩa: “Giống gia súc là một quần thể sai khác nhau, nhưng trong phần lớn các trường hợp về kiểu gen hoặc kiểu hình lại giống nhau hơn là so với các giống khác”. Trên quan điểm thực tiễn thì: động vật thuần giống có nghĩa là động vật mà về mặt nguồn gốc, ngoại hình, sức sản xuất chúng đáp ứng được những yêu cầu nhất định của một phương hướng nhân giống. Kết hợp cả 2 quan điểm đó có thể định nghĩa giống vật nuôi một cách đầy đủ như sau: “Giống vật nuôi là một nhóm vật nuôi hoàn chỉnh của một loài nào đó, chúng có chung một nguồn gốc, được hình thành bởi quá trình lao động sáng tạo của con người trong những điều kiện kinh tế và tự nhiên nhất định, chúng có số lượng nhất định, có giá trị kinh tế và giá trị làm giống, có những đặc tính về ngoại hình, sinh lý và đặc điểm kinh tế nhất định, có những yêu cầu nhất định về điều kiện sống. Những đặc tính và yêu cầu ấy có thể di truyền cho đời sau và cho phép ta phân biệt được giống này với giống khác”. Những tính trạng của giống có thể chia làm 2 loại: - Tính trạng chất lượng: gồm các tính trạng mà biểu hiện bên ngoài của chúng có thể phân biệt được với nhau rõ ràng, dứt khoát, có thể xác định bằng một tính từ như: màu sắc lông trắng (đen, vàng,...), hình dáng mào gà (mào cờ, mào sít...), tai lợn (cụp, đứng,...). các tính trạng này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tính di truyền. Môi trường sống cũng ảnh hưởng tới tính trạng chất lượng nhưng không rõ nét bằng tính di truyền.
  15. - Tính trạng số lượng: gồm các đặc điểm mà biểu hiện ra bên ngoài không phân biệt với nhau được một cách rõ ràng, dứt khoát, thường phải biểu hiện ra qua nhiều trạng thái trung gian cho nên không thể dùng một tính từ để xác định mà phải dùng thống kê qua số liệu được cân, đong, đo, đếm và dùng phương pháp thống kê phân tích độ chính xác của số liệu. Các tính trạng số lượng bao gồm: khối lượng, chiều cao, chiều dài, sản lượng thịt, sữa, trứng, tốc độ sinh trưởng... Giữa tính trạng số lượng và điều kiện sống có mối quan hệ chặt chẽ mặc dầu biến dị của các tính trạng này có cơ sở di truyền nhưng điều kiện sống giữ một vai trò hết sức quan trọng. Ranh giới giữa hai loại tính trạng số và chất lượng không thật rõ ràng, trong nhiều trường hợp chúng còn có mối liên quan với nhau một cách chặt chẽ. Trong chăn nuôi, phần lớn các tính trạng số lượng đều mang giá trị kinh tế của con giống. Ngoài ra tập tính (habit) và trạng thái thần kinh cũng là những đặc điểm của giống. 2.1.3.2. Phân loại giống Dựa vào mức độ tác động của con người trong quá trình thuần dưỡng gia súc, người ta phân chia giống thành 3 nhóm. 2.1.3.2.1. Giống nguyên thủy Nhóm giống này có các đặc điểm chính sau: - Tầm vóc nói chung nhỏ - Sức sản xuất thấp, thường mang tính kiêm dụng - Thành thục muộn - Thích hợp với điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc ở mức độ thấp. 2.1.3.2.2. Giống quá độ Nhóm giống này có đặc điểm sau: - Tầm vóc tương đối lớn do đã được chọn lọc, cải tiến - Sức sản xuất được nâng lên một bước, hướng kiêm dụng - Thành thục tương đối sớm. 2.1.3.2.3. Giống gây thành Nhóm này có các đặc điểm chính sau: - Tầm vóc lớn hoặc to, nhỏ theo định hướng của con người - Sức sản xuất cao, hướng chuyên dụng hoặc kiêm dụng - Thành thục sớm - Sức chịu đựng bệnh tật kém, dễ bị tác động bởi sự thay đổi của điều kiện sống. - Ðòi hỏi điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc ở mức độ cao. 2.2. Ngoại hình thể chất Ngoại hình thể chất là một trong ba chỉ tiêu đánh giá chọn lọc gia súc. Phương pháp đánh giá gia súc thông qua ngoại hình thể chất cho phép ta đánh giá hàng loạt gia súc,
  16. tiến hành đánh giá những tính trạng không thể cân, đo, đong, đếm, hoặc sử dụng các phương pháp phân tích sinh học khác. Tuy vậy, nếu chỉ đánh giá ngoại hình thể chất thôi thì không thể đánh giá đúng bản chất gia súc. Vì vậy, công tác chọn lọc cần kết hợp chỉ tiêu ngoại hình thể chất với các chỉ tiêu khác. 2.2.1. Ngoại hình 2.2.1.1. Khái niệm Từ thời kỳ tiền sử trong việc chọn lọc giống vật nuôi, con người đã chú ý đến ngoại hình. Trước công nguyên, người La Mã cho rằng gia súc có lông sẫm thì khỏe, sức chịu đựng cao hơn gia súc có màu lông nhạt. Khoảng thế kỷ thứ III, Bá Lạc (Trung Quốc) viết sách Tương Mã Kinh nói về ngoại hình của ngựa. Nhân dân ta từ xưa đã có nhiều ca dao, tục ngữ lưu truyền kinh nghiệm chọn giống thông qua đặc điểm ngoại hình: “Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua” “Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy” (đối với gà) Ðối với trâu cày: “Sừng cánh ná, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi” “Miệng gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn”; chọn con chân thon, móng tròn quản thắt, gân mặt, gối eo, thân mình trường nhiều, tiền treo hậu hạ, sừng cong cánh ná … Lê Quý Ðôn trong “Vân Ðài Luân Ngữ” cũng viết: “Bạch xỉ, xơ mao, đoản vi, hồng bì” tức là: “ Răng trắng, lông thưa, đuôi ngắn, da hồng” là ngoại hình đẹp của lợn. Chúng ta có thể định nghĩa ngoại hình như sau: “Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khỏe, hoạt động của các bộ phận trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất và nó là hình dạng đặc trưng của một giống cho phép ta phân biệt dễ dàng giữa giống này với giống khác”. Con vật khỏe mạnh thì biểu hiện bên ngoài là: da, lông bóng mượt, mềm, đàn hồi, hồng hào, mắt tinh nhanh. Sức khỏe liên quan chặt chẽ tới thể chất, tới tính thích ứng với điều kiện bên ngoài, tới sự hoạt động bình thường của các cơ quan bộ phận trong cơ thể. Khả năng sản xuất của con vật có thể được đánh giá thông qua sức khỏe và một số bộ phận trong cơ thể, đặc biệt là các bộ phận có liên quan trực tiếp đến sản phẩm như: bầu vú của bò sữa; mông, vai, lườn của lợn thịt... Mặt khác, đặc trưng của ngoại hình là đặc điểm dễ nhận biết, đặc điểm để phân biệt giúp ta phân biệt các giống vật nuôi. Chẳng hạn lợn Ỉ sắc lông đen, lợn Móng Cái lưng có loang đen hình yên ngựa; trâu Murrah sừng cong, da mỏng; gà Leghorn lông trắng. Tóm lại, ngoại hình dễ nhận biết khi đánh giá, cho phép ta suy đoán khả năng sinh trưởng phát dục, sức sản xuất của vật nuôi cũng như phân biệt các giống vật nuôi khác nhau. 2.2.1.2. Ðặc điểm ngoại hình của vật nuôi theo các hướng sản xuất Ngày nay, khi đánh giá gia súc giống theo ngoại hình không chỉ dừng lại ở màu sắc lông da, mà còn phải quan tâm đến kết cấu cơ thể gắn với hướng sản xuất. Đó chính là
  17. ngoại hình thể chất theo hướng sản xuất. Gia súc có hướng sản xuất khác nhau thì ngoại hình cũng khác nhau. Bò thịt có ngoại hình khác bò sữa, lợn hướng nạc khác lợn hướng mỡ, gà đẻ trứng khác gà thịt, ngựa cưỡi khác ngựa kéo, cừu lấy lông thô khác cừu lấy lông mịn. Ngoại hình bò sữa Ngoại hình bò thịt - Thân hình cái nêm, phần sau phát - Thân hình chữ nhật, toàn thân đầy triển hơn. đặn, sâu, rông. - Đầu dài, cổ dài, vai hẹp, ngực sâu - Đầu ngắn, cổ ngắn vai nở, ngực nhưng không rộng, lưng đùi dài, sâu rộng; lưng, hông thân rộng, đầy chân cao. thịt, đùi ngắn, nở, chân thấp. - Da mỏng, đàn hồi, lông dày, - Lớp mỡ dưới da dày, lông thưa, mượt. đầu vú phát triển, tĩnh mạch mịn. Bầu vú không phát triển. vú nổi rõ. ------------------------------------------- -------------------------------------------- Ngoại hình lợn hướng nạc Ngoại hình lợn hướng mỡ - Thân dài, hẹp, phần mông đùi - Thân ngắn, sâu rộng, toàn thân phát triển lớn. đầy đặn. - Đầu nhỏ, mặt gọn, mắt tinh, vai, - Đầu to, má sệ, mắt kém tinh lưng, hông đầy đặn, chắc, chân cao, nhanh, vai, lưng, hông đầy đặn, hơi bụng gọn. chảy sệ, chân thấp, bụng sệ. Ngoại hình gà hướng trứng Ngoại hình gà hướng thịt - Thân hình thon mảnh - Thân hình khối chữ nhật đầy đặn. - Đầu nhỏ, bụng to, chân thấp - Đầu to, cổ ngắn, thô, ngực, - Đầu to, ức, lườn, lưng, đùi phát lườn, đùi phát triển triển, chân cao, vạm vỡ. - Trầm tĩnh, chậm chạp. - Nhanh nhẹn, ưa vận động 2.2.2. Thể chất 2.2.2.1. Khái niệm Khi đánh giá vật nuôi ta chú ý đến ngoại hình tức là chú ý đến các biểu hiện bên ngoài, những biểu hiện đó phần nào phản ánh cấu tạo và chức năng của các bộ phận bên trong cơ thể. Nhưng thông qua ngoại hình ta không thể biết đầy đủ được sức sống, sức khỏe, sức đề kháng, tính thích ứng và khả năng sản xuất. Vì vậy, đánh giá ngoại hình cần được bổ sung bằng việc đánh giá thể chất.
  18. Thể chất chính là trạng thái sức khỏe, mức độ năng suất, sức chịu đựng, tính thích nghi, khả năng chống đỡ bệnh tật của vật nuôi. Vậy yếu tố gì quyết định thể chất con vật?. Cho tới nay vấn đề này vẫn chưa được giải quyết triệt để. Aristote đề ra học thuyết thể dịch cho rằng tỷ lệ khác nhau giữa các chất dịch trong cơ thể (máu đỏ, mật vàng, lách đen) quyết định thể chất gia súc. Wirohon cho rằng tổng số các cơ quan trong cơ thể quyết định thể chất. Culexop dựa vào tỷ lệ các phần của cơ thể phân loại thể chất. Paplốp dựa vào hoạt động của hệ thần kinh mà phân loại thể chất... Hiện nay người ta đang đi sâu vào yếu tố nội tiết, phát hiện cường độ và kiểu trao đổi chất để đánh giá thể chất. 2.2.2.2. Phân loại thể chất Xuất phát từ những cơ sở khác nhau trong việc xác định bản chất của thể chất mà người ta có những phân loại thể chất khác nhau. Những phân loại có giá trị trong thực tiễn chọn lọc nhân giống gia súc hiện nay gồm có các hướng sau: 2.2.2.2.1. Phân loại dựa trên quan hệ giữa các phần trong cơ thể (Culexop) Dựa trên những thực nghiệm khảo sát tỷ lệ các bộ phận: thịt, da, xương, phủ tạng trong cơ thể, Culexop chia thể chất ra làm 4 loại sau: - Thể chất thô: là các gia súc có da, xương, cơ phát triển mạnh, ít mỡ. Chúng thường dùng để cày kéo, lấy lông thô… - Thể chất thanh: là các gia súc có da mỏng, xương, chân nhỏ, đầu nhẹ, chúng thường là bò sữa cao sản, ngựa chạy. - Thể chất săn: là các gia súc có da thịt săn, rắn chắc, lớp mỡ ít phát triển, chúng thường là bò sữa không phải cao sản, ngựa cưỡi. - Thể chất sổi: là các gia súc có lớp mỡ dày, da thịt nhão, xương to nhưng không chắc, chúng thường là bò nuôi vỗ béo lấy thịt, lợn hướng mỡ. Trong thực tế, thể chất gia súc thường mang tính chất kết hợp thanh săn, thanh sổi, thô săn, thô sổi. - Thanh săn: là loại gia súc xương nhỏ nhưng chắc chắn, lớp mỡ dưới da mỏng, da đàn hồi, lông dày mượt, đầu thanh, chân đùi cứng cáp, mông nở, sức sống dồi dào, thần kinh nhạy cảm, tính tình linh hoạt. Ngựa cưỡi, bò sữa thuộc loại hình này. - Thanh sổi: là loại gia súc có lớp cơ mỡ rất phát triển, da mỏng, mịn nhưng nhão, lông mềm, đầu nhẹ. Thần kinh không nhạy cảm lắm, tính tình trầm tĩnh, dễ vỗ béo. Bò thịt, lợn hướng nạc thuộc loại thể chất này. - Thô săn: là loại gia súc có bộ xương to, to và chắc. Ðầu, chân to, dáng nặng nề, bắp cơ săn, rắn, dày, lông thô cứng, khả năng làm việc khỏe. Ngựa kéo nặng, trâu bò cày kéo thuộc nhóm này. - Thô sổi: là loại gia súc có bộ xương thô, to nhưng không chắc chắn, da dày, thịt nhão, thần kinh kém nhạy cảm, lười nhác, ít vận động. Khả năng làm
  19. việc, cho thịt đều kém. Loại gia súc này không thích hợp với hướng sản xuất nào cả, thường bị loại thải. 2.2.2.2.2. Phân loại dựa vào hình dáng lồng ngực của vật nuôi Cách phân loại này dựa vào khả năng trao đổi chất thông qua dung lượng hô hấp và đặc điểm hình dáng lồng ngực con vật, là căn cứ chủ yếu để phân loại. Theo cách phân loại này người ta chia ra: - Thể chất hô hấp: là gia súc có lồng ngực sâu, dài, hơi hẹp, xương sườn hơi xiên. Bộ xương chắc chắn, da săn nhưng đàn hồi, bộ máy hô hấp và tuần hoàn phát triển, khả năng trao đổi chất cao. Bò sữa cao sản, ngựa chạy thuộc nhóm thể chất này. - Thể chất tiêu hóa: là các gia súc có lồng ngực ngắn, rộng, xương sườn thẳng, da mỏng hơi nhão, lớp mỡ dưới da phát triển, cường độ trao đổi chất chậm, dễ vỗ béo. Gia súc nuôi lấy thịt, ngựa kéo, trâu bò cày kéo thuộc nhóm thể chất này. - Thể chất hỗn hợp: là loại hình trung gian giữa 2 loại thể chất trên. Gia súc có thể chất này thường thuộc loại có hướng sản xuất kiêm dụng. 2.2.2.2.3. Phân loại dựa vào hoạt động thần kinh cao cấp (Paplốp). Cơ sở của sự phân loại này là sức mạnh của các quá trình hoạt động thần kinh, sự cân bằng của các tốc độ chuyển dịch giữa 2 trạng thái hưng phấn và ức chế. Paplốp căn cứ vào 3 đặc điểm đó mà chia ra 4 loại thể chất sau: Sự cân bằng giữa Tốc độ Sức mạnh Loại thể chất hưng phấn và ức chế chuyển dịch Yếu Buồn bã Không thăng bằng Nóng nảy Mạnh Thăng bằng Nhanh Linh hoạt Chậm Bình thản Một điều đáng chú ý là thể chất luôn gắn liền với sức khỏe, gia súc có thể chất tốt sẽ có tính thích ứng cao, trái lại, thể chất xấu, tính thích ứng kém, khả năng sản xuất dễ bị giảm sút khi điều kiện môi trường thay đổi. Trong chăn nuôi công nghiệp hiện nay, chọn lọc thể thất có ý nghĩa quan trọng làm giảm thấp tỷ lệ loại thải do cách chăm sóc nuôi dưỡng theo từng đàn lớn. 2.2.3. Giám định ngoại hình thể chất của vật nuôi Giám định ngoại hình thể chất của vật nuôi là phương pháp đánh giá, chọn lọc hàng loạt, cần tiến hành thường kỳ hằng năm nhằm loại thải những gia súc xấu nâng cao phẩm chất của đàn về mặt kiểu hình. Có 3 phương pháp giám định sau đây: 2.2.3.1. Giám định bằng mắt Là phương pháp dùng mắt để quan sát và dùng tay sờ nắn, kiểm tra các bộ phận của con vật. Phương pháp này được sử dụng từ lâu. Là phương pháp đơn giản, nhanh
  20. chóng nhưng tương đối hoàn chỉnh, có thể đánh giá được chi tiết từng bộ phận cũng như tổng quát trên cơ thể con vật. Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi người đánh giá phải có kinh nghiệm, quen tay, quen mắt, suy luận tổng hợp được giá trị chung của con vật. 2.2.3.2. Giám định bằng cách đo các chiều cơ thể Là phương pháp dùng các loại thước: gậy, dây, compa để đo các chiều trên cơ thể con vật. Số lượng các chiều đo tùy thuộc vào mục đích công tác giống, thông thường với bò đo 5 - 8 chiều, với lợn 3 - 4 chiều, trong các thí nghiệm có thể đo 13 - 18 chiều. Các chiều đo thông dụng bao gồm: Với bò: - Cao vây: khoảng từ mặt đất đến u vai (thước gậy, thước dây) - Sâu ngực: khoảng cách từ xương ức tới sống lưng, đo ở vị trí sau xương bả vai (thước gậy). Với lợn: - Cao vai: cách đo giống bò (thước gậy) - Dài thân: khoảng cách từ điểm nối giữa 2 tai đến khấu đuôi theo chiều cong của lưng (thước dây). - Vòng ngực: đo giống bò. Phương pháp đo các chiều có ưu điểm là khách quan, có số liệu lưu trữ, so sánh, nhưng đòi hỏi khi đo đạc, con vật phải đứng đúng tư thế mới có kết quả chính xác. Ngoài ra, thông qua các chiều đo, ta có thể nhận xét sự phát triển của bộ xương tức là một phần thể chất của con vật hoặc có thể dựa vào kết quả đo đạc xác định trọng lượng con vật, ứng dụng trong trường hợp không có điều kiện cân gia súc. Ðể có thể nhận xét, so sánh sự phát triển bộ xương thể chất con vật, sau khi đo xong ta có thể tính thành các chỉ số. Các chỉ số quan trọng bao gồm: - Chỉ số cao chân: (cao vây - sâu ngực) x 100 Chỉ số cao chân = Cao vây Gia súc non có chỉ số này cao, càng lớn càng giảm. Ngựa cưỡi, bò sữa có chỉ số này cao hơn bò thịt, ngựa kéo. - Chỉ số dài thân: Dài thân chéo x 100 Chỉ số dài thân = Cao vây Chỉ số này tăng theo tuổi, trâu bò cày kéo cao hơn trâu bò sinh sản. - Chỉ số sau cao: Cao khum x 100 Cao hông x100

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản