
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
28
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và sự
bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), Chat
GPT, Việt Nam đang đứng trước cơ hội và thách thức
to lớn trong việc chuyển đổi số. Chuyển đổi số không
chỉ là xu thế tất yếu mà còn là động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh
quốc gia. Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền
thông, đến đầu năm 2024, có 78,44 triệu người sử
dụng internet tại Việt Nam. Số lượng người sử dụng
Internet tại Việt Nam được dự báo sẽ liên tục tăng
trong giai đoạn 2024-2029. Trong dòng chảy đó, vai
trò của Công đoàn Việt Nam (CĐVN) ngày càng trở
nên quan trọng, đặc biệt là trong việc ứng dụng
công nghệ số, AI, Chat GPT để nâng cao hiệu quả
hoạt động, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đoàn
viên, người lao động (NLĐ).
2. Tầm quan trọng của công tác truyền thông
trong bối cảnh chuyển đổi số
Bối cảnh: Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang
diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến mọi mặt
của đời sống, từ kinh tế, xã hội đến văn hóa, giáo
dục. Công nghệ số đang thay đổi cách thức sản xuất,
kinh doanh, quản lý, kết nối và truyền thông. Theo
nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội,
hơn 80% doanh nghiệp Việt Nam đã ứng dụng công
nghệ số vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Chuyển
đổi số đang trở thành xu thế tất yếu, là động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia. Việt Nam đã và đang đẩy mạnh
công cuộc chuyển đổi số, với mục tiêu trở thành
quốc gia số, nền kinh tế số. Chính phủ đã ban hành
nhiều chính sách, chiến lược về chuyển đổi số, như
Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn
2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược phát
triển kinh tế số Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn
đến năm 2030.
Chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức cho
CĐVN, trong đó có việc thích ứng với công nghệ mới,
nâng cao năng lực số hóa, đổi mới phương thức hoạt
CÔNG TÁC TrUyỀN THÔNG CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
TrONG BỐI CẢNH CHUyểN ĐổI SỐ
ThS. Lê Thị PhƯơnG Thảo - ThS. nGuyễn nGọc GiA Bảo*
Ngày nhận: 20/3/2025
Ngày phản biện: 02/4/2025
Ngày duyệt đăng: 15/4/2025
Tóm tắt: Chuyển đổi số trong hoạt động công đoàn được xác định là một trong ba khâu đột phá quan trọng nhằm tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của tổ chức Công đoàn dựa trên nền tảng công nghệ số gắn với cải cách hành
chính; nâng cao năng lực khai thác, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ thiết thực, hiệu quả hoạt động của các cấp công đoàn;
khắc phục các hạn chế, tồn tại, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn, xây dựng đội ngũ công nhân viên chức lao động
(CNVCLĐ) từng bước hiện đại, lớn mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.
Từ khóa: chuyển đổi số; công đoàn; truyền thông.
COMMUNICATION wORK OF VIETNAM TRADE UNIONS IN THE CONTEXT OF DIGITAL TRANSFORMATION
Abstract: Digital transformation in trade union activities is identified as one of the three important breakthroughs of the term to
create a strong and comprehensive change in all areas of trade union activities based on the digital technology platform associated
with administrative reform; improve the capacity to exploit and apply information technology to practically and effectively serve the
activities of trade unions at all levels; overcome limitations and shortcomings, contribute to improving the quality of trade union
activities, build a gradually modern and strong workforce, contributing to the successful implementation of economic and social
development goals.
Keywords: digital transformation; trade union; communication.
——————
* Trường Đại học Công đoàn

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
29
động, truyền thông hiệu quả để thu hút, kết nối và
phục vụ đoàn viên, NLĐ. Theo khảo sát của CĐVN, tỷ
lệ cán bộ, công chức CĐVN sử dụng thành thạo công
nghệ số còn thấp, chỉ khoảng 50% [5].
Tầm quan trọng của công tác truyền thông:
Truyền thông đóng vai trò rất quan trọng trong việc
thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao nhận thức của cán
bộ, đoàn viên, NLĐ về chuyển đổi số, tạo sự đồng
thuận và hỗ trợ cho công tác chuyển đổi số của
CĐVN. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát
triển Xã hội, truyền thông hiệu quả giúp nâng cao
nhận thức của người dân về chuyển đổi số, thúc đẩy
sự tham gia của người dân trong việc ứng dụng công
nghệ số, AI, Chat GPT.
Đối với tổ chức Công đoàn thì truyền thông
giúp CĐVN kết nối với đoàn viên, NLĐ, cung cấp
thông tin chính xác, kịp thời về chính sách, pháp
luật, hoạt động của CĐVN, đồng thời lan tỏa những
giá trị tốt đẹp, những hoạt động tích cực của CĐVN.
Theo thống kê của CĐVN, số lượng người theo dõi
các trang mạng xã hội của CĐVN đã tăng trưởng
đáng kể trong những năm gần đây, cho thấy hiệu
quả của công tác truyền thông trực tuyến của
CĐVN [6].
Truyền thông hiệu quả giúp nâng cao uy tín, vị
thế của CĐVN trong xã hội, tạo dựng hình ảnh CĐVN
năng động, sáng tạo, gần gũi với đoàn viên, NLĐ.
Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội,
hình ảnh CĐVN trên mạng xã hội đã có những
chuyển biến tích cực, nhận được sự đánh giá cao từ
phía đoàn viên, NLĐ.
3. Thực trạng công tác truyền thông của công
đoàn Việt nam trong bối cảnh chuyển đổi số
3.1. Về tổ chức bộ máy
Hiện nay, toàn hệ thống Công đoàn có 02 cơ
quan báo (Báo Lao động, Báo Lao động Thủ đô); 01
tạp chí (Tạp chí Lao động và Công đoàn), 05 tạp chí
thông tin khoa học thuộc các trường đại học, viện
nghiên cứu. Bản tin của công đoàn còn duy trì hoạt
động ở một số địa phương, ngành1. Các cơ quan chủ
quản đã quan tâm lãnh đạo, tạo điều kiện, hỗ trợ
nguồn lực để các cơ quan báo chí công đoàn vượt
qua khó khăn, thách thức; tiếp tục đổi mới, phát
triển. Từ năm 2022, Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam thực hiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu
thầu thực hiện tuyên truyền nhiệm vụ chính trị với
các cơ quan báo chí, truyền thông, trong đó thực
hiện giao nhiệm vụ, giao kinh phí triển khai cho các
cơ quan báo chí trong hệ thống Công đoàn. Các báo,
tạp chí nỗ lực nâng cao chất lượng hoạt động; đồng
thời xây dựng tổ chức bộ máy tinh, gọn, hoạt động
hiệu lực, hiệu quả, từng bước xây dựng vị thế của
từng đơn vị trong làng báo chí cách mạng Việt Nam.
Báo Lao động điện tử trung bình có 22 tin/ngày
về công nhân, công đoàn; báo Lao động in, dành 2
trang để truyền thông hoạt động công đoàn, đặc
biệt mở thêm chuyên trang Công đoàn Việt Nam để
82 đơn vị đầu mối trực thuộc Tổng Liên đoàn thường
xuyên đóng góp tin bài. Truyền hình Lao động tăng
thời lượng phát sóng trên internet.
Tạp chí Lao động và Công đoàn đổi mới, nâng
cao chất lượng tạp chí in, vận hành ngày càng hiệu
quả Tạp chí điện tử và các chuyên trang điện tử; triển
khai nhanh các hoạt động kết hợp truyền hình và
mạng xã hội; xây dựng chương trình “Talk Công
đoàn” phát vào tối thứ 7 hàng tuần; tổ chức thường
niên cuộc thi viết “Vòng tay Công đoàn”.
Báo Lao động Thủ đô trực thuộc LĐLĐ thành phố
Hà Nội là 01 trong 5 cơ quan báo chí được thành phố
quy hoạch giữ lại. Báo đang phát hành 5 ấn phẩm
gồm báo in (02 kỳ/tuần), báo điện tử Lao động Thủ
đô, chuyên trang Làm giàu, chuyên trang Lao động
và Pháp luật, phát hành thí điểm Bản tin sinh hoạt
công đoàn cơ sở. Với 1.500 tờ/kỳ, mỗi năm Báo Lao
động Thủ đô đã xuất bản hơn 12.000 tin, bài.
Nhìn chung, các cơ quan báo chí công đoàn đã
nhanh chóng hiện đại hóa phương thức làm báo,
không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, tính
chuyên sâu của các chương trình, tin, bài. Đặc biệt là
đã khẳng định vai trò của truyền thông trong đấu
tranh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của người lao động.
Hiện nay, toàn hệ thống công đoàn Việt Nam có
79 trang thông tin điện tử của 79 LĐLĐ tỉnh, thành
phố, Công đoàn ngành Trung ương và tương
đương, Công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng
—————
1Bản tin Công đoàn Cao su mỗi tháng một số 48 trang, phát hành 3.200 bản/số,
đến tận tổ công đoàn; đồng thời chuyển sang file PDF gửi vào nhóm zalo đến
toàn thể đoàn viên. Nội dung đa dang, phong phú các thể loại của một tờ báo
chuyên ngành; Bản tin Công đoàn Dầu khí......... Bản tin sinh hoạt Công đoàn cơ
sở của LĐLĐ TP. Hà Nội gồm 44 trang, phát hành hàng tháng với 10.800
cuốn/kỳ.

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
30
Liên đoàn2, với hơn 297 triệu lượt truy cập3; gần 1,4
triệu tin, bài cùng với nhiều trang thông tin điện tử
riêng của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đang
hoạt động tốt, là kênh truyền tải thông tin chính
thống chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp Công
đoàn, đóng góp tích cực vào công tác thông tin,
tuyên truyền.
Không chỉ thu hút lượng truy cập thông qua các
bài viết, hình ảnh đa phương tiện mà Ban Biên tập
các website còn nhạy bén trong tiếp cận công nghệ
truyền thông hiện đại để tổ chức các cuộc thi trực
tuyến; đồng thời, sáng tạo trong phương thức gia
tăng tốc độ truy cập gián tiếp từ hiệu ứng các cuộc
thi, chương trình trực tuyến cho Tổng LĐLĐ Việt
Nam phát động.
Hầu hết các trang thông tin điện tử đều ban hành
quy chế hoạt động, thành lập ban biên tập, xây dựng
lực lượng cộng tác viên, đầu tư trang thiết bị và nâng
cấp giao diện. Công tác quản lý, vận hành có nhiều
đổi mới và hoạt động hiệu quả hơn.
Tổng LĐLĐ Việt Nam tổ chức giao ban báo chí
hàng quý; tổ chức họp báo và thường xuyên phối
hợp cung cấp, trao đổi thông tin với phóng viên
của 40 cơ quan báo chí Trung ương, Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh; ký kết chương trình phối hợp công tác
với Bộ Thông tin và Truyền thông, chương trình
phối hợp tuyên truyền với 05 cơ quan báo chí chủ
lực của Đảng, Nhà nước4; thực hiện cơ chế đặt hàng,
giao nhiệm vụ, đấu thầu tuyên truyền nhiệm vụ
chính trị của tổ chức Công đoàn với các cơ quan
báo chí truyền thông5. Các LĐLĐ địa phương, Công
đoàn ngành Trung ương, Công đoàn Tổng công ty
trực thuộc Tổng Liên đoàn đã triển khai 558 chương
trình phối hợp tuyên truyền với các cơ quan báo chí
công đoàn, báo chí Trung ương và địa phương. Số
lượng thông tin đăng tải trên báo chí cũng không
ngừng được tăng lên, với gần 40 nghìn tin, bài,
phóng sự trong năm 20226. Nội dung thông tin
ngày càng chuyên biệt, cùng một vấn đề, hoạt
động công đoàn nhưng mỗi báo khai thác theo thế
mạnh riêng.
3.2. Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin và
mạng xã hội, từng bước chuyển đổi số trên lĩnh vực
truyền thông
Việc sử dụng nền tảng công nghệ số, mạng xã
hội đã trở thành công cụ làm việc, kết nối không thể
thiếu trong việc tuyên truyền các đường lối, chính
sách của Nhà nước, của tổ chức công đoàn tới công
nhân, người lao động. Các cấp công đoàn hình thành
và duy trì thường xuyên hoạt động của hơn 327
ngàn tài khoản mạng xã hội (facebook) với hơn 3
triệu thành viên7. Số lượng thành viên tham gia các
trang facebook của công đoàn, nhất là cơ sở ngày
càng nhiều. Trong đó, có những đơn vị số lượng
thành viên tham gia nhiều hơn số đoàn viên, người
lao động trong doanh nghiệp8. Số lượng bài viết,
hình ảnh, video... tuyên truyền tăng qua các năm9;
nhiều nội dung đăng tải có số lượng tiếp cận rất
lớn10. Số lượng nhóm zalo tăng nhanh, từ 3.000
nhóm năm 2021 đến nay là gần 38 nghìn nhóm với
hơn 1,3 triệu thành viên là cán bộ công đoàn các cấp,
hàng ngày chia sẻ thông tin theo lĩnh vực công việc.
Các nhóm đã phát huy rõ hiệu quả công tác tuyên
truyền, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, diễn biến tư
tưởng của người lao động một cách nhanh chóng,
kịp thời.
Cùng với đó là chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện
vọng, đề xuất, phối hợp giải giải quyết những những
bức xúc của đoàn viên, người lao động qua các kênh
—————
2Hiện có 3 đơn vị chưa có trang thông tin điện tử là CĐ Công an Nhân dân, CĐ
Quốc Phòng, LĐLĐ tỉnh Hà Nam.
3Các website có số lượng truy cập lớn gồm: CĐ Ngân hàng với 70 triệu lượt; CĐ
NN & PTNT với gần 67 triệu lượt truy cập. Các đơn vị có từ 10 triệu đến 20 triệu
lượt truy cập gồm: Giáo dục, Than - Khoáng sản, Xây dựng, Viên chức, Bà Rịa -
Vũng Tàu, Bình Thuận, Đắc Lắc.
4Đài truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, báo
Nhân dân, Tạp chí Cộng sản.
5Năm 2022 thực hiện với 16 cơ quan báo chí; năm 2023 thực hiện với 31 đơn vị
truyền thông của 22 cơ quan báo chí.
6LĐLĐ tỉnh Lâm Đồng có 8.184 bài viết, phóng sự tuyên truyền; An Giang có 18
chương trình phối hợp với các cơ quan báo chí với 6.500 bài viết, phóng sự;
LĐLĐ tỉnh Thanh Hóa có 2.387 bài viết, phóng sự tuyên truyền; LĐLĐ Khánh
Hòa có 6 chương trình phối hợp, với 2.179 bài viết, phóng sự; các LĐLĐ tỉnh,
thành phố có từ 1.000-2.000 bài viết, phóng sự tuyên truyền gồm: Quảng Bình,
Quảng Ninh, Bắc Giang, Bình Dương, Lạng Sơn, Thái Bình.
7Trang facebook Công đoàn Việt Nam có gần 100 nghìn lượt theo dõi; trung
bình gần 200 nghìn lượt tương tác/tháng.
8Bình Phước có 22.212/44.191 đoàn viên, công nhân lao động tham gia các
trang mạng xã hội của công đoàn cơ sở, đạt tỷ lệ 50.26%. Một số CĐCS thực
hiện tốt việc xây dựng hình ảnh, đăng tải các thông tin được nhiều đoàn viên,
CNLĐ tham gia là CĐCS Công ty New Apparel Far Eastern - KCN Bắc Đồng Phú;
CĐCS Công ty TNHH SXGD Grand Gain - KCN Đồng Xoài I.
9Năm 2019 là 53.571 tin, bài; năm 2020 là 104.000 tin, bài; năm 2021 là
470.460 tin, bài, đến tháng 6/2023 là 628.031 tin, bài với hơn 2 triệu lượt tiếp
cận thông tin.
10 Video giáo dục truyền thống hiếu thuận, Lễ biểu dương 75 nghìn sáng kiến,
truyền hình trực tuyến kỷ niệm 130 năm Ngày Quốc tế Lao động...

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
31
truyền thông11; đã sử dụng tốt hiệu ứng lan tỏa của
truyền thông xã hội để kêu gọi, vận động ủng hộ,
trao “Kết nối yêu thương” hỗ trợ công nhân khó
khăn. Tổng Liên đoàn đã ứng dụng các công cụ,
phần mềm thống kê, theo dõi, tổng hợp và báo cáo
hàng tuần về tâm trạng, tư tưởng, dư luận trên
không gian mạng12; thăm dò ý kiến của cán bộ, đoàn
viên, CNVCLĐ; điều tra, nắm bắt tâm trạng, tư tưởng,
đánh giá của đoàn viên, CNLĐ về hoạt động công
đoàn; đề xuất các giải pháp xử lý các vấn đề liên
quan đến tổ chức công đoàn mà dư luận quan tâm.
Các kênh truyền hình, bản tin trên mạng xã hội13,
các chương trình truyền hình trực tiếp do công đoàn
thực hiện và phối hợp thực hiện tăng, phạm vi tác
động lớn, hình ảnh nhận diện tổ chức công đoàn rõ
nét. Chương trình truyền hình trực tiếp “Việt Nam
khát vọng bình yên” là sự kiện truyền thông quốc
gia khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của
Đảng, Nhà nước, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và
các tầng lớp nhân dân, trong đó có đội ngũ cán bộ
công đoàn, đoàn viên và lực lượng nhân viên y tế
trong phòng, chống dịch Covid-19; lan tỏa thông
điệp động viên, khích lệ nhân dân cả nước tiếp tục
đoàn kết, vượt khó, chiến thắng dịch bệnh, phục hồi
sản xuất và các hoạt động kinh tế - xã hội. Chương
trình truyền hình trực tiếp “Vinh quang Việt Nam”,
“Sáng kiến vượt khó, sáng tạo, chiến thắng đại dịch”
là sự kiện văn hóa chính trị đặc biệt tôn vinh gương
điển hình tiên tiến, doanh nghiệp, doanh nhân và
đoàn viên, người lao động có thành tích đặc biệt
xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước. Các
chương trình truyền hình trực tiếp Đại hội công
đoàn cấp tỉnh, thành phố là sự kiện chính trị trọng
đại của tổ chức công đoàn được thực hiện đồng thời
trên sóng đài phát thanh - truyền hình địa phương
và trên nền tảng số của địa phương và của Tổng
Liên đoàn.
3.3. Ưu tiêu sử dụng đa phương tiện và phát huy
vai trò của người có ảnh hưởng trong truyền thông
Việc ưu tiên sử dụng đa phương tiện trong thể
hiện nội dung truyền thông về cơ bản đáp ứng nhu
cầu tiếp nhận thông tin, tương tác đa chiều của đoàn
viên công đoàn, CNVCLĐ chủ động trong môi trường
truyền thông số. Thông tin về chủ trương, đường lối,
chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, của tổ
chức Công đoàn Việt Nam được trình bày ngắn gọn,
dễ nhớ, dễ thực hiện dưới dạng sơ đồ, thu hút lượng
tương tác lớn14.
Các cấp công đoàn đã khai thác có hiệu quả sức
ảnh hưởng của những chuyên gia hoặc những
người được đánh giá cao và có tiếng nói, tầm ảnh
hưởng (như các ca sỹ, nghệ sỹ nổi tiếng...) để truyền
tải thông điệp của công đoàn đến với người dân.
Tiêu biểu như: Liên đoàn Lao động Thành phố Cần
Thơ chuyển thể báo cáo chính trị thành ca vọng cổ;
Công đoàn Viên chức Việt Nam sử dụng tiểu phẩm
tuyên truyền trong Đại hội do nghệ sỹ nổi tiếng
biểu diễn...
Có thể nói, trong bối cảnh cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, việc sử dụng công nghệ số, IT, AI,
Chat GPT đang lan rộng, việc đẩy mạnh hình ảnh
Công đoàn trên mạng xã hội không chỉ là xu thế mà
còn là yêu cầu tất yếu. Sự năng động, linh hoạt và đổi
mới trong công tác truyền thông đã góp phần quan
trọng trong việc nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức
Công đoàn Việt Nam, hướng đến một tổ chức vững
mạnh, hiện đại, vì đoàn viên và người lao động.
4. Đề xuất các giải pháp góp phần đẩy mạnh
công tác truyền thông của công đoàn Việt nam
trong bối cảnh chuyển đổi số
Thứ nhất, xây dựng chiến lược truyền thông hiệu
quả: Xác định rõ mục tiêu, đối tượng, thông điệp
truyền thông phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số.
CĐVN cần xác định rõ mục tiêu truyền thông, như
nâng cao nhận thức về chuyển đổi số, tuyên truyền
—————
11 LĐLĐ tỉnh Bình Dương đã dùng ứng dụng Zalo kêu gọi cán bộ các cấp trong
tỉnh ủng hộ để giúp gia đình người lao động khó khăn. Kết quả, chỉ trong vòng
một buổi tối vận động qua kênh Zalo “Công đoàn Bình Dương” đã vận động
được với số tiền gần 300 triệu đồng. Đặc biệt trong năm 2021, khi dịch Covid-
19 bùng phát, tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội, LĐLĐ tỉnh đã kịp thời hỗ
trợ khoảng 640 tấn nhu yếu phẩm đên khoảng 90.000 phòng trọ cho khoảng
180.000 công nhân. LĐLĐ tỉnh Hải Dương trong đợt bùng phát lần thứ 2 dịch
bệnh Covid - 19 sau khi công nhân khu phong tỏa, cách ly y tế phản ánh trên
mạng xã hội thiếu thực phẩm cũng đã kịp thời hỗ trợ. Các cấp công đoàn tỉnh
Bắc Giang trong đợt bùng phát dịch lần thứ 4 cũng sử dụng mạng xã hội để liên
lạc với công nhân.
12 Phối hợp Trung tâm giám sát an toàn không gian mạng Quốc gia rà soát,
đánh giá, dự báo xu hướng thông tin của đoàn viên, người lao động.
13 Youtube Công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phát sóng hàng ngày; Youtube
Công đoàn Dệt May, Bình Dương có tần suất phát sóng từ 8-10 video/tháng.
14 Bộ thiết kế đồ họa về Bộ luật lao động đăng tải trên facebook Công đoàn Việt
Nam thu hút hơn 2 triệu lượt tương tác. Infographic về kỷ niệm 130 năm Ngày
sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất
nước (30/4); về Quốc tế lao động 1/5 và Tháng Công nhân; về lịch sử Công đoàn
Việt Nam.

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
32
chính sách, pháp luật về chuyển đổi số, tạo dựng
hình ảnh CĐVN năng động, sáng tạo, gần gũi với
đoàn viên, NLĐ. Ứng dụng đa dạng kênh truyền
thông, từ truyền thông truyền thống đến truyền
thông số, như website, mạng xã hội, ứng dụng di
động, truyền hình trực tuyến...CĐVN cần khai thác
tối đa tiềm năng của các kênh truyền thông số, như
Facebook, Youtube, Zalo, TikTok... để tiếp cận với
nhiều đối tượng, nhất là thế hệ trẻ. Tạo nội dung hấp
dẫn, sáng tạo, phù hợp với tâm lý, nhu cầu của đoàn
viên, NLĐ, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, hình ảnh đẹp
mắt, video thu hút. CĐVN cần chú trọng đến việc tạo
nội dung hấp dẫn, dễ hiểu, gần gũi với đoàn viên,
NLĐ, sử dụng hình ảnh, video, âm nhạc, game... để
thu hút sự chú ý.
Tạo điều kiện cho đoàn viên, NLĐ tương tác, chia
sẻ, phản hồi thông tin, tạo dựng cộng đồng trực
tuyến, tăng cường sự kết nối, lan tỏa. CĐVN cần tổ
chức các cuộc thi, cuộc khảo sát trực tuyến, tạo các
diễn đàn trực tuyến để đoàn viên, NLĐ tương tác,
chia sẻ thông tin, góp ý kiến.
Thường xuyên đánh giá hiệu quả của công tác
truyền thông, kịp thời điều chỉnh chiến lược, nội
dung, kênh truyền thông cho phù hợp. CĐVN cần
sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu để đánh giá
hiệu quả của công tác truyền thông, từ đó điều
chỉnh chiến lược, nội dung, kênh truyền thông cho
phù hợp.
Thứ hai, nâng cao năng lực truyền thông số cho
cán bộ, công chức CĐVN: Tăng cường đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức, kỹ năng về truyền thông số cho cán
bộ, công chức CĐVN, đặc biệt là cán bộ làm công tác
truyền thông. CĐVN cần tổ chức các khóa đào tạo,
bồi dưỡng về truyền thông số cho cán bộ, công chức
CĐVN, tập trung vào các kỹ năng như viết bài, quay
video, sử dụng mạng xã hội... Xây dựng đội ngũ cán
bộ chuyên nghiệp, có chuyên môn, kỹ năng về
truyền thông số, am hiểu tâm lý, nhu cầu của đoàn
viên, NLĐ. CĐVN cần tuyển dụng, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ trẻ, có chuyên môn, kỹ năng về truyền thông
số, am hiểu tâm lý, nhu cầu của đoàn viên, NLĐ. Ứng
dụng công nghệ số để quản lý, phân tích dữ liệu, tạo
nội dung, quản lý kênh truyền thông, nâng cao hiệu
quả công tác truyền thông. CĐVN cần đầu tư hệ
thống quản lý nội dung, phân tích dữ liệu, tạo nội
dung tự động... để nâng cao hiệu quả công tác
truyền thông.
Thứ ba, công đoàn Việt Nam cần đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ và nền tảng số một cách đồng bộ
nhằm hiện đại hóa toàn diện công tác truyền thông.
Việc xây dựng ứng dụng “Công đoàn số” là một bước
đi quan trọng, tích hợp đa dạng các chức năng như
cung cấp thông tin, tra cứu chính sách, dịch vụ công
đoàn, cũng như tiếp nhận phản ánh, kiến nghị từ
đoàn viên. Bên cạnh đó, phát triển hệ thống cơ sở dữ
liệu đoàn viên toàn quốc không chỉ giúp quản lý
hiệu quả mà còn mở ra cơ hội phân tích hành vi
người dùng để cá nhân hóa nội dung truyền thông,
đảm bảo thông tin đến đúng người, đúng nhu cầu.
Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), chatbot
vào hệ thống truyền thông sẽ hỗ trợ trả lời nhanh
các thắc mắc, tạo trải nghiệm thân thiện, tiện lợi,
đồng thời giúp giảm tải công việc cho cán bộ công
đoàn. Ngoài ra, Công đoàn cần đầu tư xây dựng các
nền tảng quản lý nội dung số (Content Management
System - CMS) hiện đại, cho phép điều phối và phân
phối nội dung một cách nhất quán, có chiến lược
trên các kênh truyền thông khác nhau như website,
mạng xã hội, bản tin điện tử và ứng dụng di động.
Việc này không chỉ giúp chuẩn hóa thông tin giữa
các cấp công đoàn mà còn tăng cường khả năng
giám sát, đo lường hiệu quả truyền thông theo thời
gian thực. Đồng thời, cần phát triển các công cụ tự
động hóa tiếp thị (marketing automation), kết hợp
phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để theo dõi hành vi
tương tác, từ đó đưa ra gợi ý nội dung phù hợp theo
từng nhóm đoàn viên. Việc sử dụng mã QR, AR (tăng
cường thực tế) hay công nghệ video tương tác cũng
có thể được tích hợp để tạo trải nghiệm truyền
thông phong phú và hấp dẫn hơn cho người dùng.
Đây là nền tảng giúp công đoàn tiến tới xây dựng hệ
sinh thái số toàn diện, đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của công tác tuyên truyền trong thời kỳ cách
mạng công nghiệp 4.0.
Thứ tư, cần tăng cường tương tác và lắng nghe từ
đoàn viên để xây dựng mối quan hệ hai chiều bền
chặt giữa tổ chức Công đoàn và người lao động. Các
hoạt động như tổ chức livestream hỏi - đáp trực
tuyến về quyền lợi, chính sách lao động; tạo các
nhóm cộng đồng trên mạng xã hội để đoàn viên tự

