
Barry Field & Nancy Olewiler 220
Hình 14.1: Phát thải hiệu quả chi phí
Điểm cân bằng hiệu quả -chi phí cho hai nguồn gây ô nhiễm với các đường MAC khác nhau đạt được khi các
đường MAC bằng nhau. Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao giảm lượng phát thải từ 80 xuống 59 tấn, trong
khi lượng phát thải của công ty có chi phí thấp sẽ giảm từ 60 xuống 25 tấn. Cả hai đường MAC đều bằng 525
đô la. Chính sách thuế, TDP, và tiêu chuẩn cá nhân đều là hiệu quả - chi phí. Một tiêu chuẩn đồng nhất được
thiết lập ở mức 42 tấn thì không phải là hiệu quả - chi phí bởi vì các đường MAC không bằng nhau tại mức
phát thải.
Chúng ta hãy xem xét lại hai cách đo lường chi phí thực thi của một chính sách. Chi phí
thực thi cá nhân đo lường tổng chi phí xử lý chất thải của nguồn gây ô nhiễm. Đó là tổng
chi phí giảm ô nhiễm (TAC) của nguồn gây ô nhiễm cộng với bất kỳ khoản thuế phải trả
hoặc chi phí mua giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng được (TDP) hay doanh thu từ
việc bán giấy phép đó. Chi phí thực thi xã hội được xác định bằng chi phí thực thi cá
nhân trừ đi khoản thuế hay doanh thu giấy phép được phân phối lại cho nguồn gây ô
nhiễm. Những khoản thu này sẽ không ảnh hưởng tới quyết định sản xuất của các công ty
nếu tất cả doanh thu được hoàn trả lại toàn bộ (nghĩa là không phụ thuộc vào lượng phát
thải).
Từ quan điểm xã hội, chi phí thực thi xã hội thực sự có ý nghĩa. Chúng ta tính toán chi phí
thực thi cá nhân vì những chi phí này minh họa khá rõ các đặc điểm kinh tế chính trị của
chính sách. Khi chi phí tư nhân của một chính sách là cao thì chúng ta có thể thấy nguồn
gây ô nhiễm phản đối việc thực thi chính sách đó. Việc xác định hai nguồn gây ô nhiễm có
chi phí giảm ô nhiễm biên khác nhau cho phép chúng ta thấy các chính sách có thể có tác
động khác nhau lên các công ty đang hoạt động trong cùng một ngành công nghiệp.
Điểm cân bằng hiệu -quả chi phí được xác định khi hai điều kiện sau được thỏa mãn:
EL + EH = 84
MACL = MACH
Điều này đảm bảo tổng lượng chất thải bằng với lượng ô nhiễm mục tiêu và chi phí giảm ô
nhiễm của những nguồn gây ô nhiễm là bằng nhau tại mức phát thải cân bằng, có nghĩa là
525 đô la là thuế trên một đơn vị
và là giá cân bằng của mỗi
giấy phép
25 tấn là tiêu chuẩn cá nhân của
công ty L và là mức phát thải
sau khi mua bán giấy phép.
59 tấn là tiêu chẩn cá nhân của
công ty H và là mức phát thải
sau khi mua bán giấy phép.

Barry Field & Nancy Olewiler 221
nguyên tắc cân bằng biên được thỏa mãn. Giải phương trình MAC trên chúng ta sẽ tìm ra
giá trị EL = 25, EH =59, và MACL = MACH = $525 tại mức phát thải mang lại hiệu quả-chi
phí cho mỗi công ty. Do mức phát thải ban đầu của công ty L là 60 và của công ty H là 80,
nghĩa là tổng lượng chất thải giảm đi là 35 của công ty L và 21 đơn vị của công ty H.
Mức thuế sẽ được qui định là $525 trên một đơn vị chất thải. Tiêu chuẩn cá nhân sẽ được
qui định tại mức phát thải mang lại hiệu quả-chi phí là 25 và 59. Chúng ta giả sử tiêu chuẩn
đồng nhất ở mức 42 đơn vị phát thải cho mỗi công ty; nghĩa là yêu cầu mỗi nguồn phát thải
cùng một lượng như nhau bất kể chi phí giảm ô nhiễm của hai nguồn đó như thế nào.
Chúng ta xem xét hai chính sách giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng được (TDP.
Trước tiên, chúng ta giả sử những nguồn gây ô nhiễm được cấp TDP mà không chịu bất kỳ
lệ phí nào. Giả sử nhà chức trách không biết gì về lượng chất thải ban đầu của các nguồn
gây ô nhiễm. Đơn giản là chúng ta lấy tổng lượng chất thải chia cho số nguồn gây ô nhiễm,
và cấp giấy phép cho mỗi công ty được phát thải ra bên ngoài là 42 đơn vị. Sau lần phân
phối đầu tiên, các công ty có thể mua bán giấy phép. TDP còn có thể được đấu giá. Với
chính sách này, nhà chức trách đơn giản đề nghị bán 84 giấy phép và để tự các công ty đấu
giá với nhau. Giả sử thời gian là đủ để mỗi chính sách đạt tới trạng thái cân bằng.
Vậy thì chính sách nào trong những chính sách trên có thể đạt tới trạng thái cân bằng hiệu
quả-chi phí? Chỉ chính sách tiêu chuẩn đồng nhất là thất bại về mặt hiệu quả - chi phí như
được ghi nhận ở chương 11. Tại mức phát thải là 42 đơn vị, MACL = $270 và MACH =
$950. Con số này có thể không đạt tính hiệu quả - chi phí vì chi phí giảm ô nhiễm biên của
hai công ty không bằng nhau tại điểm cân bằng. Một tiêu chuẩn cá nhân thiết lập tại mức
phát thải hiệu quả, một mức thuế được định ra tại mức giá hiệu quả, và cả hai hệ thống
TDP đều đạt hiệu quả - chi phí.
Bảng 14.1 trình bày chi phí thực thi cá nhân và chi phí thực thi xã hội của mỗi chính sách.
Như đã minh họa, chi phí thực thi xã hội là giống nhau đối với tất cả các chính sách ngoại
trừ tiêu chuẩn đồng nhất. Tổng chi phí xã hội về mặt hiệu quả - chi phí là $14.700.
Bảng số liệu trình bày rõ tiêu chuẩn đồng nhất đạt được mức phát thải mục tiêu với tổng
chi phí vượt quá tổng chi phí của các chính sách khác. Tiếp theo, ghi nhận sự khác biệt
trong chi phí kiểm soát cá nhân giữa các chính sách và giữa hai loại công ty. Các chính
sách có thể được xếp hạng theo chi phí tư nhân từ thấp nhất đến cao nhất cho từng loại
nguồn gây ô nhiễm. Đối với nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp, chính sách được ưa thích
sắp xếp theo chi phí thấp nhất đến chi phí từ thấp nhất đến cao nhất là (a) TDP được phân
bổ ban đầu không chịu phí tổn, (b) tiêu chuẩn đồng nhất, (c) tiêu chuẩn cá nhân, và (d) sự
ràng buộc thuế đồng nhất và chính phủ bán đấu giá TDP. Đối với nguồn gây ô nhiễm có
chi phí cao, trật tự xếp hạng là tiêu chuẩn cá nhân, rồi đến TDP không đấu giá, tiếp theo là
tiêu chuẩn đồng nhất và cuối cùng là thuế và TDP được bán đấu giá. Cho nên, chính sách
tiêu chuẩn có tác động khác nhau phụ thuộc vào nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao hay
thấp nhưng có điều thấy rõ là các tiêu chuẩn này luôn có chi phí thấp hơn thuế hay hệ
thống TDP bán đấu giá. TDP được phân bổ ban đầu không tính phí luôn là chính sách được
ưa thích nhất hay nhì trong bảng danh sách14. Đều này giúp giải thích tại sao các nguồn gây
14 Bảng xếp hạng của TDP miễn phí được phân bổ ban đầu sẽ là một hàm của sự phân bổ các giấy phép ban
đầu. Ví dụ, nếu nguồn gây ô nhiễm nhận giấy phép phát thải theo tỷ lệ phát thải ban đầu, công ty L sẽ lấy 36
giấy phép còn công ty H lấy 48. Điều này có thể thay đổi chi phí kiểm soát tư nhân đối với công ty L là
3.412,50 đô la và công ty H là 11.287,50 đô la. Việc phân bổ này làm cho chính sách đứng thứ hai theo tiêu
chí chi phí thấp nhất đối với công ty L. Do vậy, giấy phép được ưa thích hơn thuế và thuế thì được ưa thích

Barry Field & Nancy Olewiler 222
ô nhiễm ngày càng ủng hộ việc thực hiện chính sách TDP. Rõ ràng các nguồn gây ô nhiễm
thích TDP hơn thuế và ít ra chiếm ưu thế hơn các dạng tiêu chuẩn. Các tác động của tiêu
chuẩn cũng khác nhau là điều thú vị và có thể giúp giải thích sự ủng hộ cho các chính sách
khác nhau. Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao sẽ ưa thích tiêu chuẩn cá nhân hơn. Nếu
nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao cũng là đại diện cho những công ty đang tồn tại trong
một ngành công nghiệp thì điều hiển nhiên là họ sẽ phản đối các tiêu chuẩn đồng nhất. Nếu
các công ty mới tham gia vào ngành có MAC thấp, một tiêu chuẩn đồng đều rõ ràng sẽ là
điều bất lợi đối với công ty cũ. Do vậy, thực tế khi áp dụng các tiêu chuẩn, chúng ta sẽ thấy
có một tiêu chuẩn thường xuyên áp dụng cho các công ty đang hoạt động trong ngành và
một tiêu chuẩn khắt khe hơn dành cho công ty mới tham gia vào ngành. Bảng số liệu cũng
chỉ rõ những nguồn gây ô nhiễm sẽ phản kháng việc thực thi chính sách thuế và TDP bán
đấu giá bởi chi phí tư nhân của các công ty cao tương đối so với các chính sách còn lại. Cột
khuyến khích công nghệ tóm lược thông tin đã trình bày ở chương 11 đến chương 13 về
việc khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm đạt được chi
phí giảm ô nhiễm biên MAC thấp hơn. Chúng ta thấy tất cả các tiêu chuẩn đều tạo ra ít
động lực đầu tư vào R&D hơn so với các chính sách còn lại. Trong tiêu chuẩn cá nhân khi
các yếu tố khác không đổi, công ty càng có chi phí xử lý chất thải thấp hơn thì có thể phải
chia sẽ tổng lượng chất thải phải giảm nhiều hơn. Thậm chí mỗi nguồn gây ô nhiễm có
động cơ báo cáo sai chi phí xử lý chất thải của họ, với hi vọng thuyết phục các nhà chức
trách rằng thực tế họ phải chịu chi phí cao hơn. Cho nên nhà chức trách vốn quan tâm đến
hiệu quả - chi phí sẽ ấn định cho công ty một tiêu chuẩn khoan dung hơn. Trong phần tiếp
theo của chương này, chúng ta sẽ minh họa bằng đồ thị về động cơ báo cáo sai thông tin
trong trường hợp chính sách tiêu chuẩn so với chính sách thuế Đối với tất cả các chính
sách khác, có những động cơ mạnh mẽ đầu tư vào các thiết bị xử lý chất thải, bởi vì mỗi
đơn vị ô nhiễm giảm đi sẽ làm giảm tổng chi phí cá nhân của chính sách đó. TDP đấu giá
và thuế có khuynh hướng tạo ra khuyến khích mạnh mẽ nhất để tìm ra đường MAC thấp
hơn, vì tiết kiệm chi phí từ việc giảm hóa đơn tiền thuế hoặc khoản thanh toán cho TDP có
khả năng rất lớn.
Cột thông tin được yêu cầu chỉ ra rõ lượng thông tin mà nhà chức trách cần có để xác định
mức độ phát thải mục tiêu. Chúng ra không cần quan tâm đến các thông tin yêu cầu cho
việc thực thi từng chính sách. Hai chính sách được xếp hạng “thấp“: tiêu chuẩn đồng nhất
và TDP đấu giá yêu cầu lượng thông tin là ít nhất. Trong trường hợp tiêu chuẩn đồng nhất
được định nghĩa như trên (các công ty được phép phát thải một lượng bằng nhau)15, nhà
chức trách không cần biết thêm bất kỳ thông tin nào từ công ty. Trường hợp TDP đấu giá
cũng tương tự như vậy. Nhà chức trách chỉ cần thông báo một cuộc bán đấu giá và chính
thị trường sẽ giải quyết những việc còn lại. Giao dịch tại thị trường giấy phép sẽ cho biết
đường MAC của từng công ty (như đường cầu và đường cung giấy phép). Phân bổ TDP
được xếp từ thấp đến trung bình. Đó là bởi vì cần thiết lập một số phương tiện phân phối
giấy phép ban đầu. Ví dụ, nhà chức trách có thể dùng tỷ lệ chất thải của công ty trong tổng
lượng chất thải làm nguyên tắc phân phối (đơn giản là lấy tổng lượng chất thải chia cho
tổng số nguồn gây ô nhiễm). Chúng ta xếp hạng thuế đồng nhất từ mức trung bình đến cao.
Để tính toán mức thuế hiệu quả chi phí, nhà chức trách phải giải bài toán hiệu quả chi phí.
Điều này có nghĩa họ phải biết MAC của tất cả những nguồn gây ô nhiễm. Nếu có nhiều
công ty thì chi phí yêu cầu thông tin sẽ là rất lớn. Lý do thuế đồng nhất ở mức trung bình là
nhà chức trách có thể làm đi làm lại cho đến khi thiết lập một thuế suất hiệu quả bằng cách
hơn bất kỳ tiêu chuẩn nào. Sẽ có những động cơ mạnh để các nguồn gây ô nhiễm vận động hành lang để có
được sự phân bổ giấy phép ban đầu có lợi cho hoï.
15 Nguyên tắc tương tự được áp dụng nếu chính sách tiêu chuẩn đồng nhất yêu cầu mỗi nguồn gây ô nhiễm
phải cắt giảm lượng phát thải theo tỷ lệ %.

Barry Field & Nancy Olewiler 223
quan sát tổng lượng chất thải, rồi tăng hay giảm thuế suất cho đến khi đạt tới mức chất thải
mục tiêu. Điều này được trình bày bằng đồ thị trong phần tiếp theo của chương (vấn đề
không chắc chắn và thông tin). Tiêu chuẩn cá nhân yêu cầu một lượng thông tin lớn. Giống
như thuế hiệu quả chi phí (nhưng không cần thao tác lặp đi lặp lại), Nhà chức trách cần
phải biết MAC của tất cả các công ty để có thể xác định tiêu chuẩn cá nhân cho mỗi công
ty. Không giống như thuế, không có cách nào để lặp đi lặp lại cho đến khi có giải pháp
mang hiệu quả chi phí. Một khi nguồn gây ô nhiễm tuân theo một tiêu chuẩn định trước,
nhà chức trách sẽ không nhận được thông tin gì về đường MAC của họ.
Bảng 14.1: Chi phí kiểm soát, khuyến khích, và những yêu cầu thông tin của các chính
sách kiểm soát ô nhiễm.
Chính sách
Chi phí
kiểm soát
tư nhân
Chi phí
kiểm soát
xã hội
Khuyến
khích
công nghệ
Thông tin
được yêu
cầu
Tiêu chuẩn đồng nhất
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao
Tổng chi phí
2.430,00
18.050,00
20.480,00
2.430,00
18.050,00
20.480,00
Yếu
Yếu
Thấp
Thấp
Tiêu chuẩn cá nhân
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao
Tổng chi phí
9.187,00
5.512,50
14.700,00
9.187,00
5.512,50
14.700,00
Yếu
Yếu
Cao
Cao
Thuế đồng nhất
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao
Tổng chi phí
22.312,50
36.487,50
58.800,00
9.187,50
5.512,50
14.700,00
Mạnh
Mạnh
Cao/T.Bình
Cao/T.Bình
TDP (miễn phí)
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao
Tổng chi phí
262,50
14.437,50
14.700,00
262,50
14.437,50
14.700,00
Yếu
Mạnh
Thấp/T.Bình
Thấp/T.Bình
TDP (đấu giá)
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp
Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao
Tổng chi phí
22.312,50
36.487,50
58.800,00
9.187,50
5.512,50
14.700,00
Mạnh
Mạnh
Thấp
Thấp

Barry Field & Nancy Olewiler 224
VẤN ĐỀ KHÔNG CHẮC CHẮN VÀ THÔNG TIN
Không chắc chắn về đường thiệt hại biên (MD) và đường chi phí giảm ô
nhiễm biên (MAC)
Chúng ta giả thiết là nhà chức trách biết chính xác các phương trình MAC và MD. Thông
tin này giúp cho họ có khả năng xác định chính sách mang lại hiệu quả xã hội. Tuy nhiên,
trong thực tế, hầu như không thể biết chắc chắn thông tin về đường MAC và MD. Nhà
chức trách phải lựa chọn các chính sách khi tồn tại vấn đề không chắc chắn về đường MD
và MAC. Các chính sách được quan tâm là thuế đồng nhất, tiêu chuẩn đồng nhất, và giấy
phép phát thải có thể chuyển nhượng (TDP)16. Khi gặp vấn đề không chắc chắn về đường
MAC và MD, nhìn chung không thể đạt tới mức cân bằng hiệu quả xã hội. Điều này được
gọi là tình huống tốt nhất thứ hai (second-best situation). Thiệt hại xã hội sẽ xảy ra khi
sử dụng bất kỳ chính sách nào. Chúng ta giả sử mục tiêu của nhà chức trách là chọn lựa
một chính sách có thể tối thiểu hóa thiệt hại xã hội vốn là kết quả của vấn đề không chắc
chắn. Thiệt hại xã hội được định nghĩa là thiệt hại nguồn lực thực cống hiến quá ít hoặc
quá nhiều cho việc kiểm soát ô nhiễm so với mức hiệu quả xã hội đạt được. Nó được đo
lường bằng diện tích nằm giữa đường MD và MAC kể từ mức chất thải thực tế đến mức
chất thải hiệu quả xã hội. Tất nhiên, nhà chức trách không biết gì về mức chất thải hiệu quả
xã hội. Mô hình lý thuyết triển khai dưới đây sẽ cho phép nhà chức trách dự đoán độ lớn
tương đối thiệt hại xã hội trong tình trạng không chắc chắn và không có thông tin. Nội
dung tổng kết như sau:
Qui tắc quyết định tốt nhất thứ hai dành cho nhà chức trách khi gặp vấn đề
không chắc chắn về đường MAC và MD là phải tổi thiểu hóa thiệt hại xã hội
trong lúc lựa chọn các chính sách. Thiệt hại xã hội thể hiện bằng phần diện
tích giữa đường MD và MAC giới hạn bởi lượng chất thải thực tế và mức đạt
hiệu quả xã hội.
Chúng ta khảo sát một số trường hợp khác nhau:
Trường hợp 1: Nhà chức trách không biết chắc chắn vị trí của đường MD, nhưng biết
vị trí của MAC
Giả sử chất thải là hỗn hợp đồng dạng và tất cả nguồn gây ô nhiễm đều có MAC giống
nhau. Hình 14.2 minh họa hai đường MD: MDE là đường do nhà chức trách dự tính; MDT
là đường thực tế không được quan sát thấy. Điểm cân bằng hiệu quả xã hội nằm tại điểm E
*; E’ là lượng chất thải mà nhà chức trách dự tính bằng cách lấy giao điểm của MD và
MAC rồi chiếu xuống trục hoành. Sau đó nhà chức trách lập ra tiêu chuẩn hay định lượng
chất thải cho phép tại điểm E’. Mức thuế đồng nhất được định ra tại t’. Sự lựa chọn công
cụ chính sách sẽ không ảnh hưởng tới độ lớn thiệt hại xã hội trong trường hợp 1 này. Dưới
sự điều tiết của tiêu chuẩn hay TDP, tổng lượng chất thải sẽ là E’. Áp dụng thuế tại t’, tổng
lượng chất thải sẽ vẫn là E’, bởi vì các nguồn gây ô nhiễm đặt t’ đúng bằng MAC. Thiệt
hại xã hội là bằng nhau trong tất cả các chính sách và bằng với phần diện tích màu xám
abc. Mức chất thải là quá thấp so với điểm cân bằng hiệu quả xã hội. Do vậy, nếu không
chắc chắn về đường MD, không có chính sách nào là nổi bật hơn cả trong việc tối thiểu
hóa thiệt hại xã hội. Và các nhà kinh tế không thể nào giúp nhà chức trách lựa chọn một
chính sách thích hợp.
16 Xem Martin Weitzman, “Prices versus Quantities”, Review of Economics Suties 41 (1974): 477-491

