
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội
Những định nghĩa đầu tiên về trách nhiệm xã hội đã được ra đời vào những
năm 50 của thế kỷ trước, cụ thể nó đã được đề cập trong cuốn sách “Social
Responsibilities of the Businessman” của Bowen (1953). Trong cuốn sách này Bowen
cho rằng: TNXH là lòng từ thiện của các DN nhằm bù đắp những tổn hại mà DN đó
gây ra cho xã hội. Với sự phát triển của xã hội, quan niệm về TNXH DN cũng có
những thay đổi và ngày càng được quan tâm hơn trong cộng đồng DN trên toàn cầu.
Từ đây, những bộ quy tắc ứng xử về TNXH DN được ra đời bởi các tổ chức liên chính
phủ, phi chính phủ trên thế giới như WorldBank, OECD, WBCSD,…
World Bank định nghĩa rằng: TNXH của DN là “cam kết của doanh nghiệp
đóng góp vào phát triển bền vững thông qua việc hợp tác với người lao động, gia đình
họ, cộng đồng địa phương và toàn xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống, vừa có
lợi cho doanh nghiệp vừa có lợi cho sự phát triển”.
Như vậy, TNXH là một phạm trù phức tạp và được các tổ chức, các nhà nghiên
cứu định nghĩa theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Song, dù được diễn đạt theo cách
nào thì về cơ bản TNXH là việc DN phải gắn kết một cách hài hòa giữa lợi ích phát
triển chung của cộng đồng xã hội với lợi ích phát triển riêng của mình.
1.1.2. Công bố thông tin trách nhiệm xã hội
1.1.2.1. Bản chất công bố thông tin trách nhiệm xã hội
Công bố thông tin DN được hiểu là việc truyền đạt thông tin từ bên trong DN
đến các đối tượng có liên quan và quan tâm đến tình hình hoạt động của DN, các đối
tượng này chủ yếu từ bên ngoài DN. Các thông tin mà DN công bố có thể thông qua
các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị, báo cáo thường niên… Ngoài ra DN có thể
công bố thông tin tự nguyện thông qua website của DN, qua các diễn đàn, báo chí,
hội nghị. Theo Etienne Farvaque và cộng sự (2011) “những thông tin mà DN công
bố không chỉ là thông tin đáp ứng yêu cầu của các cổ đông và nhà đầu tư mà còn gồm