
1
ĐỊA LÝ DU LỊCH
Câu 1: Nêu vị trí của địa lý du lịch trong hệ thống khoa học địa lý?
Xuất phát từ nguyên gốc tiếng Hi Lạp “Geographia” – địa lí được hiểu là sự mô tả về trái
đất, trong quá trình tồn tại và phát triển con người luôn có mong muốn biết và hiểu về thế giới họ
đang sinh sống.
Địa lí được hiểu là ngành nghiên cứu cấu trúc và tương tác của hai hệ thống chính: Hệ thống
sinh thái và xã hội kết nối con người với nhau và với môi trường sống của họ; và hệ thống không
gian kết nối một vùng trên bề mặt trái đất với những vùng khác.
Trên thực tế, du lịch gồm việc di chuyển từ nơi này đến nơi khác, diễn ra tại những không
gian đặc biệt và vì thế nó gắn với địa lí.
Từ góc nhìn địa lí, nghiên cứu du lịch cần có hiểu biết về nơi khách đi đến và điểm du lịch.
Mối quan hệ giữa chúng, trong đó gồm tuyến đường vận chuyển, các mối quan hệ kinh doanh –
tiếp thị, và động cơ du lịch. Cụ thể khi nghiên cứu về địa lí du lịch, cần chú ý đến ba khía cạnh sau
đây: “Quy mô không gian; Hệ thống lãnh thổ du lịch và thành phần địa lí và Tương tác về mặt
không gian giữa các thành phần trong hệ thống du lịch”.
Theo Stephen Williams, Alan A.Lew: “Địa lí du lịch là ngành khoa học nghiên cứu hệ thống
lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch. Phát hiện quy luật hình thành, phát triển và phân bố của nó thuộc mọi
kiểu, mọi cấp. Dự báo và nêu lên các biện pháp để hệ thống ấy hoạt động một cách tối ưu”.
Theo quan điểm của tác giả, khái niệm địa lí du lịch: Địa lí du lịch là tìm hiểu các đặc điểm
tự nhiên, văn hóa xã hội của một không gian, lãnh thổ nhất định. Tổ chức, liên kết không gian,
lãnh thổ của các đối tượng du lịch, các cơ sở phục vụ có liên quan, để khai thác những lợi thế cho
hoạt động du lịch đạt hiệu quả cao.
=> Từ các quan điểm trên có thể thấy rằng: Hoạt động du lịch muốn đạt được hiệu quả kinh
tế cao, cần thiết phải có sự nghiên cứu về địa lí du lịch.
Câu 2: Trình bày và phân tích đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch?
+ Nếu đối tượng nghiên cứu của Du lịch học là hiện tượng du lịch (với tư cách là hiện tượng
xã hội cũng như với tư cách là một hoạt động kinh tế), cùng các vấn đề nảy sinh liên quan (mối
tương tác của hiện tượng du lịch với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, môi trường tự
nhiên), thì đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch hẹp hơn.
+ Địa lí du lịch là một chuyên ngành của Du lịch học, chuyên nghiên cứu về hệ thống lãnh thổ
nhằm phát hiện quy luật phân bố và tương tác không gian giữa các thành phần của hệ thống du
lịch, phục vụ cho việc hoạch định và triển khai chiến lược khai thác không gian du lịch một cách
bền vững.
+ Đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch là không gian của các phân hệ trong hệ thống du
lịch và mối tương tác không gian đó, bao gồm tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), cơ sở hạ
tầng phục vụ du lịch…
Câu 3: Trình bày nhiệm vụ của địa lý du lịch?
- Nghiên cứu tổng hợp mọi tài nguyên du lịch, sự kết hợp của chúng theo lãnh thổ và hướng

2
xác định khai thác có hiệu quả các loại tài nguyên này.
- Nghiên cứu nhu cầu du lịch tùy thuộc vào đặc điểm xã hội - nhân khẩu của dân cư và sự
phân hóa của nó theo lãnh thổ.
- Xác định cơ cấu lãnh thổ tối ưu của các vùng du lịch. Cụ thể:
+ Cấu trúc sản xuất - kĩ thuật của các vùng du lịch sao cho phù hợp với nhu cầu và tài nguyên
du lịch.
+ Các mối liên hệ nội vùng (ngoại vùng) và liên vùng (quốc gia).
+ Hệ thống tổ chức quản lí các vùng du lịch nhằm khai thác hiệu quả những khác biệt theo
lãnh thổ về nhu cầu, tài nguyên và sự phân công lao động trong lĩnh vực nghỉ ngơi du lịch.
Câu 4: Trình bày các phương pháp nghiên cứu của địa lý du lịch?
+ Phương pháp xác định ranh giới vùng du lịch: Phần lớn các số liệu được thu thập theo
đơn vị hành chính, vì vậy cũng giống như phân vùng các ngành kinh tế khác, ranh giới các vùng
du lịch được xác định theo ranh giới hành chính.
+ Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống: Các hệ thống lãnh thổ du lịch thường tồn tại
và phát triển trong mối quan hệ qua lại nội tại của từng phân hệ, giữa các phân hệ du lịch trong
một hệ thốngvới nhau và với môi trường xung quanh, giữa các hệ thống lãnh thổ du lịch cùng cấp
và khác cấp, giữa hệ thống lãnh thổ du lịch và hệ thống kinh tế - xã hội.
+ Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập tài liệu: Là nghiên cứu địa lý truyền thống
để khảo sát thực tế, áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn nhằm nhận được các thông
tin xác thực, cần thiết để thành lập ngân hàng số liệu làm cơ sở cho các phương pháp khác.
+ Phương pháp bản đồ: Thu thập những nguồn thông tin mới phát hiện phân bố trong không
gian của các đối tượng nghiên cứu. Bản đồ còn là phương tiện để cụ thể hoá; biểu đạt kết quả
nghiên cứu về cấu trúc, đặc điểm và phân bố không gian của các đối tượng tổ chức quy hoạch lãnh
thổ như những đặc điểm phân bố không gian và khối lượng của nguồn tài nguyên, các lượng khách,
cơ sở vật chất kỷ thuật phục vụ du lịch, kết cấu hạ tầng, các thuộc tính của hệ thống lãnh thổ du
lịch. Phương pháp này còn dùng để thu thập nguồn thông tin và vạch ra tính quy luật hoạt động
của các hệ thống lãnh thổ du lịch.
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Nhằm khảo sát đặc điểm xã hội của các đối tượng du
lịch. Phương pháp này dùng để lấy ý kiến của cộng đồng, du khách, các chuyên gia, các thành viên
tham gia vào quá trình tổ chức, quy hoạch lãnh thổ du lịch. Trong quy hoạch, tổ chức lãnh thổ du
lịch, phương pháp này thường được sử dụng để điều tra, phân tích thị trường như: sở thích, nhu
cầu tiêu dùng, mức chi tiêu của khách, sức hấp dẫn của các điểm du lịch, tài nguyên du lịch, chất
lượng dịch vụ, chất lượng nguồn nhân lực, thái độ, nhận thức của dân cư đối với các vấn đề bảo
vệ tài nguyên môi trường du lịch, cũng như các vấn đề phát triển du lịch mà các quá trình tổ chức
lãnh thổ du lịch thực hiện, mức sống của cộng đồng địa phương nơi tiến hành tổ chức, quy hoạch
du lịch, lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, của các cơ quan, các cấp chính quyền.
+ Phương pháp cân đối: Là toàn bộ các phương pháp tính toán để phân tích, dự báo các mục
tiêu sẽ được thực hiện của hệ thống lãnh thổ du lịch, có tính đến tổng hợp các yếu tố. Phương pháp
này còn dùng để tính toán cân đối thu nhập của du lịch và chi phí cho du lịch, xác định diện tích

3
cần thiết cho lãnh thổ, tài nguyên, lao động…
+ Phương pháp phân tích toán học và mô hình hóa: Là định hướng, thống kê các đối tượng
tổ chức lãnh thổ, phân tích tương quan để phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hưởng của các yếu tố
hệ thống lãnh thổ du lịch và sự tác động qua lại giữa chúng, đánh giá số lượng và chất lượng của
các yếu tố, có được những nhận định về định tính của các yếu tố đúng đắn, mang tính khách quan.
Câu 5: Trình bày quan niệm và nhiệm vụ của tổ chức lãnh thổ du lịch? Tổ chức lãnh
thổ du lịch ở Việt Nam?
- Quan niệm và nhiệm vụ của tổ chức lãnh thổ du lịch:
Tổ chức lãnh thổ du lịch được xem là một nghệ thuật sắp xếp, bố trí các đối tượng du lịch
trên một lãnh thổ nhất định nhằm đạt được các hiệu quả khai thác lãnh thổ tối ưu. Trong nghiên
cứu Địa lí du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu,
bởi vì không thể tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động du lịch nếu không xét khía cạnh lãnh
thổ của nó.
Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du
lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu hóa các nguồn tài nguyên du lịch
(tự nhiên, nhân văn), cơ sở hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, văn
hóa, môi trường) cao nhất.
Việc tổ chức lãnh thổ du lịch hiệu quả sẽ tạo điều kiện giúp tăng năng lực cạnh tranh của
lãnh thổ du lịch đó. Khai thác hiệu quả các tài nguyên du lịch của một lãnh thổ tạo ra lợi thế kinh
tế nhờ quy mô, giúp giảm giá thành sản phầm, tăng cường liên kết, chia sẻ thông tin và các nguồn
lực khác. Điều đó góp phần làm phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, tạo việc làm
và giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội.
Tổ chức lãnh thổ du lịch sẽ thúc đẩy sáng tạo và đổi mới trong quản lí kinh doanh du lịch
trên địa bàn địa phương. Với mục tiêu tổ chức để gia tăng năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế
so với các lãnh thổ khác, các cơ quan quản lí du lịch phải thường xuyên đổi mới quy trình quản lí
nhằm nâng đáp ứng yêu cầu của thị trường. Trước sức ép cạnh tranh, cần phải luôn đổi mới trong
các loại hình tổ chức du lịch, phối hợp tạo ra các sản phẩm du lịch mới, ngày càng đặc sắc hơn.
Sức ép cạnh tranh do khách hàng muốn có sự lựa chọn các nhà cung cấp tốt hơn trong tổ chức hoạt
động du lịch cũng làm cho các doanh nghiệp phải liên tục cải tiến.
Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lí là cơ sở để bảo vệ, duy trì và khai thác hiêu quả các nguồn
tài nguyên trên lãnh thổ đó. Việc sắp xếp, bố trí các hoạt động du lịch tối ưu gắn với điều kiện cơ
sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và nguồn tài nguyên góp phần giảm thiểu chi phí cũng như tác
động có hại từ các hoạt động không mong muốn, đồng thời dễ dàng tìm ra nguyên nhân tác động
đến tài nguyên và sản phẩm du lịch để từ đó có các phương án bảo vệ và phát triển hợp lí.
- Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam:
Khi nghiên cứu phân vùng du lịch, dù là phân vùng kinh tế ngành hay phân vùng kinh tế
tổng hợp, không thể không đề cập đến hệ thống phân vị. Không thể phân vùng nếu chúng ta thiếu
hệ thống phân vị.
Việt Nam đã sử dụng Hệ thống phân vị theo 5 cấp từ thấp đến cao như sau: Điểm du lịch,

4
Trung tâm du lịch, Tiểu vùng du lịch, Á vùng du lịch và Vùng du lịch.
Câu 6: Trình bày và phân tích các cấp độ trong tổ chức không gian du lịch?
Như đã trình bày, hệ thống phân vị có 5 cấp bậc, dc miêu tả chi tiết trong bảng sau:
STT
Các cấp độ trong
tổ chức lãnh thổ
du lịch Việt Nam
Miêu tả
1
Điểm du lịch
+ Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị.
+ Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ. Tuy nhiên điểm
du lịch vẫn chiếm một diện tích nhất định trong không gian. Sự
chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch là tương đối lớn, ví
dụ điểm du lịch VQG Cúc Phương với điểm du lịch Văn Miếu
Quốc Tử Giám…
+ Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự
nhiên, văn hoá – lịch sử hoặc kinh tế – xã hội ) hoặc một loại công
trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ.
Vì thế, điểm du lịch có thể được phân thành 2 loại: điểm tài
nguyên và điểm chức năng.
+ Thời gian lưu trú của khách tương đối ngắn (không quá 1-2
ngày) vì sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp
ngoại lệ (điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ của cơ
quan…).
+ Các điểm du lịch nối với nhau bằng tuyến du lịch. Trong từng
trường hợp cụ thể các tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng (á
vùng, tiểu vùng, trung tâm) hoặc cũng có thể là tuyến liên vùng
(giữa các vùng).
2
Trung tâm du lịch
+ Đây là một cấp hết sức quan trọng. Trong đó có sự kết hợp lãnh
thổ của các điểm du lịch cùng loại hay khác loại. Trên lãnh thổ,
trung tâm du lịch tập trung rất nhiều điểm du lịch. Nói cách khác,
mật độ điểm du lịch trên lãnh thổ tương đối dày đặc. Mặt khác,
trung tâm du lịch gồm các điểm du lịch chức năng được đặc trưng
bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế – kỹ thuật và tổ chức. Nó
có khả năng và sức thu hút khách du lịch rất lớn.
+ Nguồn tài nguyên du lịch tương đói tập trung và được khai thác
một cách cao độ. Có thể nguồn tài nguyên không thật đa dạng (về
loại hình), song điều kiện cần thiết là phải tập trung và có khả
năng lôi cuốn khách du lịch.
+ Có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối phong
phú đủ để đón, phục vụ và lưu khách lại trong một thới gian dài.
+ Có khả năng tạo vùng rất cao. Về cơ bản, trung tâm du lịch là

5
một hệ thống lãnh thổ du lịch đặc biệt, là hạt nhân của vùng du
lịch. Chính nó đã tạo nên bộ khung để cho vùng du lịch hình thành
và phát triển. Nói cách khác, đây là “cực” để hút các lãnh thổ lân
cận vào phạm vi tác động của vùng.
+ Có quy mô nhất định về mặt diện tích, bao gồm các điểm du
lịch kết hợp với các điểm dân cư và môi trường xung quanh. Về
độ lớn, trung tâm du lịch có thể diện tích tương ứng với một tỉnh.
3
Vùng du lịch
- Là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị.
- Đó là sự kết hợp lãnh thổ của các á vùng (nếu có), tiểu vùng,
trung tâm, điểm du lịch có những đặc trưng riêng biệt về số lượng
và chất lượng. Nói cách khác, vùng du lịch như một hệ thống
thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn,
xã hội… bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường kinh
tế – xã hội xung quanh với chuyên môn hoá nhất định trong lĩnh
vực du lịch.
- Nói tới vùng du lịch, không thể không đề cập tới chuyên môn
hoá. Nó chính là bản sắc của vùng, làm cho vùng này khác hẳn
với các vùng kia.
- Ở nước ta, tính chuyên môn hoá của các vùng du lịch đang trong
quá trình hình thành. Tuy nhiên, mỗi vùng chuyên môn hoá gì và
xu hướng phát triển như thế nào thì cần phải nghiên cứu.
- Các mối liên hệ nội và ngoại vùng đa dạng dựa trên nguồn tài
nguyên, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có của vùng.
- Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn, bao
gồm nhiều tỉnh. Nếu hoạt động du lịch mạnh mẽ, nó còn bao
chiếm cả các khu vực khu vực không du lịch (điểm dân cư, các
khu vực không có tài nguyên và cơ sở du lịch nhưng có mối quan
hệ chặt chẽ với kinh tế du lịch).
- Có 2 loại vùng du lịch:
+ Vùng du lịch đang hình thành (vùng du lịch tiềm năng).
+ Vùng du lịch đã hình thành (vùng du lịch thực tế).
Ở nước ta có thể có tiểu vùng du lịch thực tế và tiểu vùng du lịch
đang hình thành. Song trên thực tế bình diện vùng du lịch, chúng
ta chưa có vùng du lịch đã hình thành. Vì vậy, vùng du lịch Việt
Nam là vùng du lịch đang hình thành. Quan niệm này hoàn toàn
phù hợp với thực tế hoạt động du lịch đang diễn ra trên thực tế ở
nước ta.
4
Tiểu vùng du lịch
- Tiểu vùng du lịch là một tập hợp bao gồm các điểm du lịch và
các trung tâm du lịch (nếu có). Vì quy mô, tiểu vùng du lịch bao

