
DỰ ÁN KHU BẢO TỒN BIỂN HÒN MUN
KHOÁ TẬP HUẤN QUỐC GIA VỀ QUẢN LÝ KHU BẢO TỒN BIỂN
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN
Phạm Trung Lương
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch
Nha Trang , tháng 8 năm 2003

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN Ở VIỆT NAM
1. Tổng quan về tình hình phát triển du lịch
1.1. Trên thế giới
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, du lịch trên phạm vi toàn cầu đã phát triển
nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách 6,93%/năm, về thu nhập 11,8%/năm
và trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu trong nền kinh tế thế giới. Theo
số liệu của tổ chức du lịch thế giới (WTO), năm 2002 khách du lịch quốc tế trên toàn
thế giới đạt 715 triệu lượt khách, tăng 3,1% so với năm 2001, thu nhập từ du lịch đạt
500 tỷ USD, tương đương 6,7 - 6,8% tổng sản phẩm quốc dân (GNP) thế giới. Du lịch
là ngành tạo nhiều việc làm và hiện thu hút khoảng 227 triệu lao động trực tiếp, chiếm
10,9% lực lượng lao động thế giới - cứ 9 người lao động có 1 người làm nghề du lịch.
WTO dự báo, năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới ước lên
tới 1.006 triệu lượt khách, thu nhập từ du lịch đạt 900 tỷ USD và ngành du lịch sẽ tạo
thêm khoảng 150 triệu chỗ làm việc, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu á-Thái Bình
Dương. Do lợi ích nhiều mặt mà du lịch mang lại, nên nhiều nước đã tận dụng tiềm
năng lợi thế của mình để phát triển du lịch, tăng đáng kể nguồn thu ngoại tệ, tạo việc
làm, thúc đẩy sản xuất trong nước, đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế-xã
hội.
Trong quá trình phát triển, du lịch thế giới đã hình thành các khu vực lãnh thổ
với các thị phần khách du lịch quốc tế khác nhau. Năm 2002, Châu Âu vẫn là khu vực
đứng đầu với 57,5 % thị phần khách du lịch quốc tế (đón 411,1 triệu lượt khách). Lần
đầu tiên, Đông á - Thái Bình Dương đã vượt Châu Mỹ với 17,5 % thị phần , đón được
125,1 triệu lượt khách; tiếp đó là Châu Mỹ với 18,6 %,... Từ cuối thế kỷ XX, hoạt
động du lịch có xu hướng chuyển dịch sang khu vực Đông á-Thái Bình Dương. Theo
dự báo của WTO, đến 2010 thị phần đón khách du lịch quốc tế của khu vực Đông á-
Thái Bình Dương đạt 22,08% thị trường toàn thế giới, sẽ vượt Châu Mỹ, trở thành khu
vực đứng thứ 2 sau Châu Âu, và đến năm 2020 sẽ là 27,34%.
Trong khu vực Đông á - Thái Bình Dương, du lịch các nước Đông Nam á
(ASEAN) có vị trí quan trọng, chiếm khoảng 34% lượng khách và 38% thu nhập du
lịch của toàn khu vực. Bốn nước ASEAN có ngành du lịch phát triển nhất là Malaysia,
Thái Lan, Singapore và Indonesia. Những nước này đều đã vượt qua con số đón 5 triệu
lượt khách quốc tế một năm và thu nhập hàng tỷ đô la từ du lịch. Năm 2002, Malaysia
đón gần 13 triệu lượt khách quốc tế, Thái Lan đón trên 10 triệu, Singapore đón gần 7
triệu; Indonesia do tình hình chính trị trong nước mất ổn định nhưng vẫn đón được 5,1
triệu lượt khách quốc tế. Việt Nam và Philippin là hai nước thu hút được lượng khách
du lịch quốc tế cao nhất trong 6 nước Đông Nam á còn lại, nhưng cũng chỉ đạt xấp xỉ
1/3 lượng khách quốc tế so với bốn nước trên (năm 2002 Philippin đón 2,2 triệu lượt
khách quốc tế, thu nhập 2,53 tỷ USD; Việt Nam đón 2,62 triệu, thu nhập trên 1,3 tỷ
USD). Theo dự báo của WTO, năm 2010 lượng khách quốc tế đến khu vực Đông Nam
á là 72 triệu lượt, với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 1995-2010 là 6%/năm, so
với 1-2% của thời kỳ 1998-2000 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
trong khu vực.

Dự án Khu bảo tồn biển Hòn Mun
Khóa tập huấn Quốc gia về Quản lý Khu bảo tồn biển
Quản lý phát triển du lịch biển Phạm Trung Lương
3
1.2. ở Việt Nam
“Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung dung văn
hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao” (Trích Pháp lệnh Du
lịch, 2/1999). Đảng và Nhà nước đã xác định "phát triển du lịch là một hướng chiến
lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"(Trích Chỉ thị 46/CT-TW Ban Bí Thư Trung
ương Đảng khoá VII, 10/1994) và “phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh
tế mũi nhọn”(Trích Văn kiện Đại hội Đảng IX).
Mặc dù ngành du lịch được hình thành và phát triển đã hơn 40 năm, song hoạt
động du lịch chỉ thực sự diễn ra sôi động từ thập kỷ 90 gắn liền với chính sách mở cửa
hội nhập của Đảng và Nhà nước. Từ năm 1990 đến năm 2002, lượng khách du lịch
quốc tế tăng 10,5 lần, từ 250 nghìn lượt lên 2,62 triệu lượt; khách du lịch nội địa tăng
13,0 lần từ 1,0 triệu lên 13,0 triệu lượt. Đây là mức tăng trưởng khá cao so với các
nước trong khu vực và thế giới. Thu nhập xã hội từ du lịch cũng tăng với tốc độ đáng
kể, thường đạt mức trên 30%/năm, năm 1991 là 2.240 tỷ đồng, đến năm 2002 đạt
23.500 tỷ đồng.
Để đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc
biệt là cơ sở lưu trú, cũng phát triển nhanh. Năm 1991 cả nước mới có trên 11,4 nghìn
phòng khách sạn thì đến năm 2002 đã có trên 72 nghìn phòng. Nhiều khách sạn cao
cấp được xây dựng làm thay đổi cơ bản diện mạo của hệ thống khách sạn Việt Nam,
đáp ứng yêu cầu lưu trú và tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế lớn. Một số khu du
lịch, cơ sở vui chơi giải trí, thể thao, sân golf đã được đưa vào hoạt động, đáp ứng một
phần nhu cầu của khách du lịch và nhân dân địa phương. Song song với việc nâng cấp,
phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường không, đường sắt và đường biển trên
phạm vi cả nước, phương tiện vận chuyển khách du lịch chuyên ngành gồm khoảng
6.000 xe, tàu, thuyền các loại đã góp phần nâng cao năng lực vận chuyển khách.
Du lịch là ngành thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Đến
năm 2002, đã có 194 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào ngành du lịch được cấp
phép với tổng số vốn đăng ký là 5,78 tỷ USD.
Du lịch phát triển đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế, xã hội phát triển,
tăng tỷ trọng dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân; khôi phục nhiều nghề, lễ hội
truyền thống... ở một số nơi, du lịch đã làm thay đổi cơ bản diện mạo đô thị, nông thôn
và đời sống cộng đồng dân cư. Những hiệu quả trên lại tác động tích cực thúc đẩy toàn
xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển du lịch, tạo nhiều việc làm mới, góp phần
tăng trưởng kinh tế, hạn chế tác động của xã hội đến môi trường tự nhiên.
2. Phát triển du lịch và những ảnh hưởng của hoạt động du lịch
2.1. Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch
Với tư cách là một ngành kinh tế, để phát triển du lịch cần thiết phải xuất hiện
và tồn tại 2 yếu tố cơ bản là “Cung” và “Cầu”

Dự án Khu bảo tồn biển Hòn Mun
Khóa tập huấn Quốc gia về Quản lý Khu bảo tồn biển
Quản lý phát triển du lịch biển Phạm Trung Lương
4
Những điều kiện cơ bản để hình thành “Cung” du lịch bao gồm :
- Tài nguyên du lịch : Du lịch là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một
cách rõ rệt vì vậy “Tài nguyên du lịch …. là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du
lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch” (Pháp lệnh Du lịch).
- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch : Đây là điều kiện quan trọng
để có thể tiếp cận khai thác các tiềm năng tài nguyên du lịch và tổ chức các dịch vụ du
lịch.
- Đội ngũ lao động : Là yếu tố quản lý, vận hành hoạt động du lịch. Chất lượng
của đội ngũ lao động trong hoạt động nghiệp vụ còn quyết định chất lượng sản phẩm
du lịch.
- Cơ chế, chính sách : Là môi trường pháp lý để tạo sự tăng trưởng của “Cung”
trong hoạt động du lịch. Trong du lịch đây cũng được xem là yếu tố quan trọng để tạo
điều kiện cho khách đến.
Những điều kiện cơ bản để hình thành “Cầu” du lịch bao gồm :
- Thị trường khách du lịch : Du lịch không thể tồn tại và phát triển nếu không
có khách du lịch. Chính vì vậy đây là điều kiện tiên quyết để hình thành “Cầu” du lịch
và cũng có nghĩa là để hình thành hoạt động du lịch.
- Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch : được xem là yếu tố để tăng “Cầu”;
yếu tố cầu nối giữa “Cung” và “Cầu” trong du lịch.
Bên cạnh những điều kiện cơ bản để có thể hình thành thị trường (mua - bán) và
phát triển du lịch, hoạt động du lịch chỉ có thể phát triển tốt trong điều kiện :
- Có môi trường trong lành về tự nhiên, xã hội, và không có dịch bệnh: du lịch
là ngành kinh tế rất nhạy cảm và gắn liền với các yếu tố môi trường. Sự suy giảm đột
ngột của du lịch bởi bệnh dịch viêm đường hô hấp cấp SARS gần đây ở một số nước
trên thế giới, trong đó có Việt Nam, là một minh chứng cụ thể về vấn đề này.
- Đảm bảo an ninh, không có khủng bố, xung đột vũ trang : Tình hình bất ổn
định ở Indonesia, Phillippine; khủng bố ở Mỹ; chiến tranh ở Trung Đông; v.v. đều
được xem là nguyên nhân chính làm giảm lượng khách du lịch đến những khu vực
này.
2.2. Các tác động ảnh hưởng chính của hoạt động du lịch
"Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định". (Pháp lệnh Du lịch, 2/1999).

Dự án Khu bảo tồn biển Hòn Mun
Khóa tập huấn Quốc gia về Quản lý Khu bảo tồn biển
Quản lý phát triển du lịch biển Phạm Trung Lương
5
Hoạt động phát triển du lịch có tác động ảnh hưởng đến nhiều mặt của kinh tế,
văn hoá - xã hội và tài nguyên, môi trường.
Đối với kinh tế - xã hội, tác động của hoạt động du lịch thể hiện ở các mặt chủ
yếu :
- Góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ; đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu tại chỗ
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ
- Góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội, nâng cao mức sống của người dân
nơi có du lịch phát triển.
- Góp phần thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, đổi mới “bộ mặt” đô thị
- Góp phần phát huy các giá trị văn hoá dân tộc
- Góp phần tăng cường giao lưu quốc tế
Bên cạnh những tác động tích cực, một số ảnh hưởng tiêu cực có thể nảy sinh
trong quá trình hoạt động phát triển du lịch bao gồm :
- Một số giá trị văn hoá có thể bị biến đổi do thương mại hoá
- Tạo sự cách biệt về kinh tế, sự thay đổi trong nếp sống truyền thống của cộng
đồng
- Tệ nạn xã hội gia tăng
Đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường, bên cạnh những tác động tích cực
như góp phần làm tăng giá trị sử dụng đất; phục hồi, tôn tạo cảnh quan đối với những
không gian được quy hoạch xây dựng các khu du lịch; bảo vệ và phát triển một số loài
sinh vật quý hiếm, bản địa để phục vụ tham quan du lịch; .v.v. hoạt động du lịch có thể
có những ảnh hưởng chính bao gồm :
- Góp phần làm mất đi nơi cư trú (habitat) của nhiều loài sinh vật do việc san
lấp tạo mặt bằng xây dựng các công trình dịch vụ du lịch.
- Kích thích việc săn bắt, khai thác các loài sinh vật quý hiếm, hoang dã
- Khai thác quá mức tài nguyên nước ngầm, đặc biệt ở khu vực ven biển
- Tăng lượng chất thải ra môi trường, góp phần làm suy giảm và ô nhiễm môi
trường.
- Tăng khả năng ô nhiễm không khí cục bộ
- Tăng khả năng lây truyền dịch bệnh
Các môi trường chủ yếu chịu ảnh hưởng của hoạt động phát triển du lịch :
- Môi trường đất
- Môi trường nước
- Môi trường sinh thái
- Môi trường không khí (cục bộ)

