Định giá tài sản trí tuệ sao cho đúng?
Định giá ở Việt Nam
Tài sn trí tuệ là một loại tài sn vô hình, không thxác định bằng các đặc
điểm vật chất ca chính nó nhưng lại có giá trị lớn và khnăng sinh ra lợi
nhuận. Nó là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát
triển của doanh nghiệp trước mắt và trong tương lai.
Theo ông Stephan Hundertmark, Viện Quản lý sở hữu trí tuSteinbeis (Đại
học Steinbeis - Đức), ở nhiều nước phát triển, tài sản vô hình không ch bao
gm tài sn trí tunhư sáng chế, nhãn hiệu, quyền tác giả, kiểu dáng công
nghiệp, mà n bao gm cả vốn trí tuệ như nguồn nhân lực, các phương thức
kinh doanh, các mối quan h trong kinh doanh và uy tín trong sn xuất kinh
doanh.
Giống như việc định giá tài sản hữu hình, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ
dựa trên các phương pháp ch yếu như: so sánh, chi phí, thu nhập và thng
dư. Tuy nhiên, việc định giá tài sn trí tuệ khó khăn và có nhiều khác biệt
hơn so với tài sn hữu hình.
Hiện tại, Việt Nam theo chuẩn mực kế toán, tài sản trí tuệ chỉ dừng lại ở các
loi hình như: bản quyền, bng sáng chế, nhãn hiu hàng hóa, phần mm
máy tính.
Gần đây, vic xác định giá trị doanh nghiệp đã tính đến giá trị i sản
hình thông qua vic tính toán lợi thế doanh nghiệp. Tuy nhiên, hot động
này mi chỉ dừng li ở công thức cứng, đó là xác định theo tỷ suất li nhuận
và lãi suất trái phiếu...
Vừa qua, trong Thông tư số 146/2007 ngày 6/12/2007 ca Bộ Tài chính
hướng dẫn thi hành Nghị định số 109/2007 của Chính phủ vviệc chuyển
công ty 100% vn nhà nước sang công ty cổ phn đã bổ sung thêm việc xác
định lợi thế doanh nghiệp trên cơ sở về vị trí địa và giá trị thương hiệu.
Cn quy định c thể hơn
Theo ông Vũ An Khang, Chủ tịch Hi đồng Qun trị, Tổng giám đốc Công
ty Định giá và dch vụ tài chính Việt Nam, từ nguyên tắc về việc ghi chép kế
toán, ch có những tài sn trí tuệ có chi phí phát sinh thì mới được xem xét
để ghi nhn.
Ngoài ra, nếu không có căn cứ về phát sinh chi phí đều không được phép ghi
nhận vào sổ sách kế toán. Như vậy, còn rất nhiều tài sn trí tuệ khác thuộc
quyền qun lý, sử dụng, sở hữu của doanh nghiệp nhưng kng được ghi
nhận.
Mặt khác, nguyên tắc chi p phát sinh không thể phn ánh đúng giá trị thực
của quyn đó, có thnhiều hơn hoặc ít hơn. Giá trị đó phi do thị trường
quyết định, ông Khang khẳng định.
Ví dụ, một công ty đã thăm dò, điều tra được một mquặng. Nếu
theo nguyên tắc kế toán thì quyn khai thác trên được ghi nhận là con số rất
nhỏ, trong khi rất nhiu khách hàng sẵn sàng trả một khoản tin ln hơn
nhiều để có được quyền khai thác nó.
Cùng quan điểm này, theo ông Trn Ngọc Sơn - Giám đốc Công ty Định giá
và Thương hiệu Favi, ai cũng nhìn thấy chính đội ngũ nhân viên lành ngh,
có kỹ thuật; ban lãnh đạo có chuyên môn, tài năng chính là một tài sản vô
cùng to ln ca công ty nhưng tại sao tài sn này li không được ghi nhận
trong bất kỳ một báo cáo nào của công ty? Phải chăng là do không định
lượng được?
Về quan điểm kế toán, công ty phải có quyền kim soát đối với tất cả tài sn
của mình, trong khi đó, đội ngũ nhân viên và ban lãnh đạo thì công ty chỉ có
thể kiểm soát được trong phạm vi hợp đồng lao động.
Để định giá đúng và chính xác tài sản này, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng,
Nhà nước cần có những quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn về tài sản vô hình
nói chung và tài sản trí tunói riêng, phân loại và ghi nhn tài sản vô hình.
Tuy nhiên, cũng có thể cho phép doanh nghiệp t xác định giá trị tài sn
hình để được ghi nhận trongo cáo tài chính. Đồng thời, để thể hin chính
xác giá trị của tài sản này, hàng năm các doanh nghiệp cần được các tổ chức
định giá xác định li giá tr của các tài sản vô hình này.
Ngoài ra, cũng cần xây dựng một chính sách phù hợp, nhất quán giữa định
giái sản trí tuệ và chế độ kế toán kiểm toán để phản ánh đầy đủ và chính
xác giá trị tài sản vô hình nói chung và tài sản trí tunói riêng