
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA VI KHUẨN BACILLUS
N6.1 ĐỐI KHÁNG EDWARDSIELLA ICTALURI GÂY BỆNH
GAN THẬN MỦ TRÊN CÁ TRA
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Võ Minh Sơn
Th.S Phạm Minh Nhựt
Sinh viên thực hiện : MAI NGỌC TUYỀN
MSSV: 107111217 Lớp: 07DSH4
TP. Hồ Chí Minh, 2011

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Võ Minh Sơn
Th.S Phạm Minh Nhựt
1
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nuôi trồng thủy sản là một trong những thế mạnh của Việt Nam. Tính đến thời
điểm này, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt hơn 3 tỷ USD với trên
843.000 tấn thủy sản các loại. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo, giá trị
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đến hết quý IV năm 2010 nhiều khả năng sẽ đạt mức
4,74 tỷ USD, trong đó riêng kim ngạch xuất khẩu cá tra sẽ chiếm ưu thế đạt khoảng
1,38 tỷ USD. Sản lượng cá tra ngày càng gia tăng thì luôn đi kèm theo sự phát sinh của
dịch bệnh. Một trong những bệnh quan trọng trên cá tra nuôi là bệnh gan thận mủ, đã
có một số công trình nghiên cứu về bệnh này. Và nguyên nhân gây bệnh được xác định
chủ yếu do vi khuẩn E. ictaluri (Crumlish và ctv, 2002). Khi bệnh xảy ra, nông dân
thường lạm dụng kháng sinh và hóa chất diệt khuẩn để phòng bệnh và điều trị cho cá
việc này đã tạo ra những chủng vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc (Schwarz và ctv., 2001;
Akinbowale và ctv., 2006). Để thay thế dần dần phương pháp phòng bệnh truyền
thống, phương pháp phòng và trị bệnh bằng liệu pháp sinh học như sử dụng vaccine,
các chất kích thích miễn dịch, các peptide kháng khuẩn, prebiotic (hợp chất tiền sinh
học), đặc biệt là phương pháp trị liệu sinh học bằng vi sinh vật có lợi (probiotic) ngày
càng được ưa chuộng. Việc sử dụng vi sinh vật thay thế kháng sinh để chữa bệnh đã trở
thành bước tiếp cận đầy hứa hẹn trong nuôi trồng thủy sản.
Với ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến hành “Khảo sát
một số đặc tính của vi khuẩn Bacillus N6.1 đối kháng Edwardsiella ictaluri gây bệnh
gan thận mủ trên cá tra”. Đề tài được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Vi sinh – Phòng
Sinh học thực nghiệm – Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy sản II.
1.2. Tình hình nghiên cứu
Trong năm 2010, Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy sản II đã tiến hành phân
lập, tuyển chọn các dòng vi khuẩn có đặc tính đối kháng vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
gây bệnh gan thận mủ trên cá tra. Nguồn vi sinh vật phân lập từ hệ tiêu hóa, nước, bùn

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Võ Minh Sơn
Th.S Phạm Minh Nhựt
2
ao nuôi cá tra và nguồn vi sinh từ ngân hàng vi sinh. Đã tiến hành 5 đợt thu mẫu với
tổng số mẫu là 284 mẫu (hệ tiêu hóa, nước và bùn), số khuẩn lạc đã sàng lọc qua AHLs
là 592, vi khuẩn lactic là 120 khuẩn lạc, vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus là 165 khuẩn lạc
Một số nghiên cứu khác về các vi khuẩn probiotic có đặc tính đối kháng với vi
khuẩn gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Sàng lọc những vi khuẩn có đặc tính đối
kháng vi khuẩn gây bệnh vẫn là cách tiếp cận được sử dụng chủ yếu trong việc phân
lập vi khuẩn probiotic. Trong quá trình sàng lọc này, đa số các nhà nghiên cứu áp dụng
phương pháp xác định hoạt tính ức chế in vitro (Spangaard và ctv., 2001; Chythanya và
ctv., 2002; Hjelm và ctv., 2004). Hiện nay, có bốn phương pháp thường được sử dụng
để sàng lọc các chủng vi khuẩn tiết ra các hợp chất ức chế in vitro: phương pháp lớp
kép (Dopazo và ctv., 1988), phương pháp đục lỗ trên mặt thạch, phương pháp cấy ria
vuông góc, và phương pháp đĩa giấy khuếch tán. Tất cả các phương pháp trên đều dựa
trên một nguyên tắc là khi một chủng vi khuẩn sản xuất ra một hợp chất ngoại bào có
tính chất ức chế một chủng vi khuẩn khác, hoạt tính này sẽ được thể hiện thông qua
việc ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn khác trong môi trường agar.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Làm cơ sở để tạo ra những sản phẩm probiotic phù hợp có đặc tính đối kháng
với vi khuẩn gây bệnh gan thận mủ E. ictaluri
1.4. Nội dung nghiên cứu
Khảo sát khả năng sinh enzyme ngoại bào
Khảo sát ảnh hưởng của pH, nhiệt độ, NaCl lên tăng trưởng và khả năng đối
kháng với E.ictaluri của Bacillus N6.1
Khảo sát khả năng chịu pH thấp và muối mật
Khả năng phân huỷ phân tử tín hiệu N-Hexanoyl hemoserine lactone
Khảo sát bản chất đối kháng của Bacillus N6.1 lên sự phát triển của E. ictaluri
bằng phương pháp nuôi chung (co-culture)

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Võ Minh Sơn
Th.S Phạm Minh Nhựt
3
CHƯƠNG II: TỒNG QUAN
2.1. Tình hình nuôi cá tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trong các năm gần đây, nghề nuôi thủy sản trong nước đã phát triển nhanh và
có nhiều nổi bật. Hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù diện tích nuôi cá tra
không lớn (năm 2009 là 5540 ha) nhưng sản lượng hàng năm cho trên 1.000.000 tấn.
Năm 2010, tình hình sản xuất, tiêu thụ cá tra ở vùng ĐBSCL có nhiều biến
động. Đến hết tháng 11/2010, tổng sản lượng sản xuất cá tra toàn vùng đạt gần 2,4 tỉ
con cá giống, diện tích thả nuôi 5.420 ha, đạt 90,3% kế hoạch năm; nhờ nâng cao năng
suất (trung bình đạt 261,2 tấn/ha/vụ) nên sản lượng cá thu hoạch 1.141.000 tấn, đạt
95,1%/năm. Sản lượng cá xuất khẩu đạt 600.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,3
tỉ USD, giảm 2,8% về lượng, 7,8% về kim ngạch xuất khẩu so cùng kỳ năm 2009. Dự
kiến cả năm xuất khẩu đạt 645.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,4 tỉ USD.
Đi sâu vào hình thức và mô hình nuôi, nghề nuôi cá tra có sự chuyển đổi từ mô
hình nước chảy trong lồng bè, đăng quần trên sông vùng thượng nguồn sông Tiền và
sông Hậu sang mô hình nuôi ao dọc cồn bãi ven sông và càng dịch chuyển về phía hạ
lưu với chất lượng cá tốt hơn. Tuy nhiên, tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra đang thể
hiện sự thiếu bền vững, trong đó có nhiều nguyên nhân chủ yếu là:
Việc phát triển cá tra quá nhanh trong những năm vừa qua, đôi khi vượt quá quy
hoạch của ngành, vượt ngoài sự quản lý của nhà nước dẫn đến các sự cạnh tranh không
lành mạnh nhất là việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Sự không ổn định về mặt cung cầu do thiếu cơ chế liên kết phối hợp giữa các
chuổi trong hệ thống đã dẫn đến các hệ lụy về biến động giá cả trên thị trường, chất
lượng sản phẩm, ô nhiễm môi trường, sự phá sản của người nuôi .
Với số lượng lên đến trên 3 tỉ con giống hàng năm nhưng việc quản lý đàn cá bố
mẹ của các trại sản xuất trong thời gian dài vừa qua chưa thật sự được quan tâm về mặt
quản lý và hổ trợ về mặt kỹ thuật. Hệ quả dẫn đến chất lượng con giống cá tra đang có

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Võ Minh Sơn
Th.S Phạm Minh Nhựt
4
biểu hiện giảm sút, tốc độ tăng trưởng chậm hơn, dể nhiễm bệnh trong quá trình ương
nuôi, tỉ lệ hao hụt cao khi nuôi.
Bệnh cá tra nuôi là một trong những nguyên nhân gây hao hụt cho người nuôi.
Trong đó các loại bệnh gan thận mủ, bệnh trắng gan, trắng mang là những bệnh gây
thiệt hại to lớn cho người nuôi có thể thiệt hại đến 20 – 30% sản lượng ao nuôi. Ngoài
ra các bệnh nội và ngoại ký sinh cũng là tác nhân gây tổn thất cho ao nuôi.
Vấn đề ảnh hưởng đến môi trường nuôi cũng như chất lượng môi trường nước
cấp cho ao nuôi cũng là một thách thức đối với sự ổn định và bền vững trong nghề nuôi
cá tra. Việc giải quyết chất thải và nước thải từ ao nuôi cá tra là thách thức lớn, đỏi hỏi
phải có những giải pháp công nghệ và kỹ thuật để đảm bảo sự bền vững về môi trường.
Vần đề thị trường tiêu thụ cá tra, tương tự với sản phẩm tôm nuôi, chất lượng
sản phẩm chế biến đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm và đáp ứng yêu cầu truy
xuất nguồn gốc của nhà nhập khẩu cũng được đặt ra đối với việc sản xuất, chế biến,
bảo quản và xuất khẩu sản phẩm cá tra.(Oanh Lê - Nguồn viện nghiên cứu nuôi trồng
thủy sản II)
Hình 2.1: Thu hoạch cá tra ở ĐBSCL

