
231
Lê Đức Ngọc
Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt: Bài này tác giả trình bầy về đổi mới kiểm tra đánh giá trong thời đại số
qua 4 nội dung: 1-Thời đại số tác động đến giáo dục đại học thế nào?, 2-Nội dung Giáo
dục 4.0 gồm những nội dung chính gì? và giáo dục đại học đã và đang phát triển để
đáp ứng như thế nào?, 3- Đổi mới kiểm tra đánh giá thành quả học tập của người học
gồm những gì? và 4-Phải làm những gì để thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá thành
quả học tập của người học.
Từ khóa: Giáo dục 4.0, Đổi mới, kiểm tra đánh giá, ngân hàng câu hỏi.
1. Thời 4.0
Thời 4.0, Thông tin (tri thức) bùng nổ, dạy không xuể. Người học có thể thu
thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, không chỉ từ nhà trường. Nghề nghiệp
thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi năng lực hành nghề thay đổi liên tục. Hoạt động
giáo dục mang tính công nghệ cao. Vì vậy, cốt lõi của Nghị quyết 29 [1] là đề xuất
chuyển từ chủ yếu dạy kiến thức, kỹ năng sang dạy Phẩm chất và Năng lực.
Để đáp ứng nguồn nhân lực, theo UNESCO [3], hiện nay cho đến 2030, cần
dạy và rèn luyện cho người học các phẩm chất và năng lực sau:
Bảng 1. Phẩm chất và năng lực nguồn nhân lực cho đến 2030
STT
Lĩnh vực
Ví dụ về giá trị, năng lực, kỹ năng và thái độ cốt lõi
1
Tư duy đổi
mới và
sáng tạo
Khả năng sáng tạo, Tinh thần khởi nghiệp, Tháo vát,
Kỹ năng vận dụng, Tư duy phản chiếu, Ra quyết định
hợp lý.
2
Kỹ năng xã
hội
Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng tổ chức, Làm việc theo
nhóm, Cộng tác, Hòa đồng, Tinh thần đồng đội, Sự đồng
cảm, Lòng trắc ẩn.
3
Kỹ năng cá
nhân
Kỷ luật tự giác, Khả năng độc lập trong học tập, Linh
hoạt và Thích ứng, Biết mình, Kiên trì, Tự tạo động lực,
Nhất quán, Tự trọng.
4
Công dân
toàn cầu
Ý thức, Khoan dung, Cởi mở, Trách nhiệm, Tôn trọng
sự đa dạng, Hiểu biết về đạo đức, Hiểu biết đa văn hóa,
Khả năng giải quyết mâu thuẫn, Tham gia dân chủ, Giải

232
quyết xung đột, Tôn trọng môi trường, Bản sắc dân tộc,
Ý thức mình thuộc về một nơi nào đó.
5
Tri thức
công nghệ
thông tin
và truyền
thông
Khả năng thu thập và Phân tích thông tin thông qua công
nghệ thông tin và truyền thông (ICT), Khả năng đánh giá
phản biện nội dung thông tin và truyền thông, Sử dụng
công nghệ thông tin và truyền thông phù hợp đạo đức.
6
Kỹ năng
khác (lối
sống, giá
trị tôn
giáo)
Tôn trọng lối sống lành mạnh, Tôn trọng các giá trị tôn
giáo. (Hiểu biết về Khoa học sức khỏe và Khoa học giáo
dục)
Với nhận thức, nhà trường là nơi chuẩn bị tiềm năng (Phẩm chất và Năng
lực) cho người học phát triển, vì vậy nhà trường cần tổ chức học tập, rèn luyện
các Phẩm chất và Năng lực sau cho người học:
• Trong giáo dục công dân (chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [2])
đã khẳng định năm phẩm chất gốc (fo): 1-yêu nước, 2-nhân ái, 3-chăm chỉ, 4-
trung thực và 5-trách nhiệm.Giáo dục sau phổ thông vẫn phải tiếp tục và nâng
cao các phẩm chất này.
• Có hai năng lực gốc (fO) của mỗi cá nhân, đã được khoa học Tâm lý Giáo
dục xác định: 1) Trí tuệ thông minh (IQ) gồm: 1-Năng lực nhận thức (năng lực
tiếp thu tri thức) có 6 bậc từ thấp đến cao, bậc sau hàm chứa bậc trước: nhớ, hiểu,
áp dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo, 2-Năng lực tư duy (năng lực vận dụng
tri thức) có 5 năng lực chính: tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy hệ thống, tư
duy phê phán và tư duy sáng tạo. Và 2) Trí tuệ cảm xúc (EQ) là khả năng giám sát
cảm xúc của mình và nhận biết đối với những người khác, phân biệt giữa họ và sử
dụng cảm xúc này để dẫn dắt mình suy nghĩ và hành động đúng đắn, hợp lý.
• Còn có Ba năng lực nền tảng của thời đại 4.0: (3 Năng lực nền tảng thứ
cấp (f1)) đó là: 1- Năng lực thu thập thông tin (qua công nghệ và học hỏi), 2-
Năng lực xử lý thông tin (qua định tính và định lượng) và 3- Năng lực sử dụng
thông tin (để ra quyết định hay giải quyết vấn đề).
• Ngoài ra, còn cần có giáo dục, rèn luyện các năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ đối với nghề nghiệp người học theo đuổi. (thuộc năng lực thứ cấp (f2))
2. Giáo dục 4.0
Cùng với tiến triển của các cuộc cách mạng công nghiệp, giáo dục cũng
được xác định các mốc GD 1.0, GD 2.0, GD 3.0 và GD 4.0. Tác giả C.B.J.Ong
và T.M.N.Nguyễn (2017) [3] đã mô tả các mốc Phát triển GD từ 1.0 đến 4.0 được
tóm tắt trong Bảng 2 dưới đây.

233
Bảng 2. Các đặc trưng quốc tế về Giáo dục từ 1.0 đến 4.0
Đặc trưng
quốc tế về
Giáo dục
GD 1.0-
Trước 1980
GD 2.0- sau
1980-
GD 3.0-
Những năm
1990
GD 4.0- Từ
những năm
2000
Mục tiêu-Tập
trung vào
Kiến thức
Việc làm
Sáng tạo tri
thức
Đổi mới và
Sáng tạo tri thức
Chương trình
Đơn ngành
Đa ngành
Liên ngành
Tích hợp ngành
Công nghệ
Giấy và bút
Máy tính
Internet và
Mobile
IoTs
Kiến thức ICT
Chưa có
Nhập ITC
Làm chủ ICT
Công dân ICT
Dạy học
Đơn cách
Hai cách
Đa cách
Mọi nơi
ĐBCL
Chất lượng
học thuật
Chất lượng
dạy học
Chất lượng
dựa trên tiêu
chuẩn
Chất lượng dựa
trên nguyên tắc
Nhà trường
Gạch và vữa
Gạch và bấm
Mạng
Hệ sinh thái
Đầu ra
Kỹ năng
làm việc
Tri thức
làm việc
Tích hợp tri
thức vào sản
xuất
Nhà sáng tạo và
Doanh nhân
Từ Bảng 2 ta thấy thời 4.0, mục tiêu của giáo dục là tạo nên nguồn nhân
lực có năng lực đổi mới và sáng tạo tri thức. Để đạt được điều đó, chương trình
giáo dục phải là tích hợp ngành để nguồn nhân lực có kiến thức rộng mang tính
tích hợp ngành, công dân ICT, học mọi nơi, học suốt đời, đáp ứng nghề nghiệp
có thể thay đổi và phát triển liên tục với công nghệ Internet xâm nhập vạn vật.
Khi đó nhà trường là một hệ sinh thái giáo dục, đầu ra phải là những nhà sáng
tạo và khởi nghiệp.
Trong những thập kỷ qua, từ dựa vào kinh nghiệm, đến dựa vào sự phát
triển của các khoa học và kỹ thuật khác (triết học, xã hội học, tâm lý giáo dục
học, kinh tế học và ngay cả công nghệ thông tin và truyền thông...) khoa học giáo
dục đã phát triển: chương trình dạy học được xem là công cụ để chuyển tải chuẩn
đầu ra (Phẩm chất và Năng lực) đến người học; Dạy học là dạy cách học (cách
tìm thông tin, cách xử lý thông tin, cách sử dụng thông tin; đấy chính là hoạt động
học và đó cũng chính là 3 năng lực nền tảng cần có thời 4.0 dù làm bất kỳ công
việc gì; Kiểm tra đánh giá thành quả học tập chính là kiểm tra đánh giá mức độ
đạt được chuẩn đầu ra của học phần hay của chương trình dạy học/đào tạo

234
3. Đổi mới kiểm tra đánh giá thời 4.0 [5]
Khái niệm Kiểm tra đánh giá (tương ứng với từ tiếng Anh là Assessment)
cần được làm rõ trong nghĩa tiếng Việt khi dùng trong giáo dục: “Kiểm tra" tương
ứng với từ "Đo” (measurement), công cụ để đo trong giáo dục là "các câu hỏi"
(questionnaires) và "bài trắc nghiệm” (test); Bài trắc nghiệm có 2 loại chinh: trắc
nghiệm tự luận (người học phải đưa ra đáp án) và trắc nghiệm khách quan (người
học được chọn đáp án để trả lời). Còn "Đánh giá" (evaluation) có công cụ để
đánh giá là "các chuẩn" (standards), "các tiêu chí" (criteria) được viết ra ở dạng
"bảng kiểm" (Rubrics..) hay đáp án kết hợp với thông tin đo được để phán xét -
tức đánh giá. Vậy “Kiểm tra đánh giá” thực ra là trùng với nghĩa rộng hơn là “Đo
lường đánh giá”.
Chất lượng câu hỏi hay bài trắc nghiệm được đánh giá qua 4 đại lượng với
định nghĩa nôm na như sau:
1- Độ khó: Tỷ lệ thí sinh trả lời đúng câu hỏi/đề thi,
2- Độ phân biệt: Tỷ lệ trả lời đúng câu hỏi/đề thi khác nhau giữa nhóm thí
sinh điểm cao và nhóm thí sinh điểm thấp,
3- Độ tin cậy: Mức độ làm đúng cùng một câu hỏi/đề thi giữa các lần trả lời,
4- Độ giá trị: Mức độ câu hỏi/đề thi đo được điều cần đo.
Kiểm tra đánh giá bao giờ cũng mắc sai số, điểm thể hiện trên bài làm chỉ
là điểm biểu kiến. Điểm thực không xác định được chính xác vì điểm thực này
luôn bị làm sai lệch (sai số dương hay sai số âm) do các yếu tố khách quan như
câu hỏi/đề thi có độ giá trị hoặc độ tin cậy thấp... Do các yếu tố chủ quan như
mỏi mệt, gian lận…của người dự thi. Vì vậy, để giảm sai số cần chọn loại
hình/phương pháp mắc sai số khách quan và sai số chủ quan nhỏ nhất. Để giảm
thiểu sai số, người ta phải triển khai nhiều lần kiểm tra đánh giá cho một học
phần, rồi lấy trung bình điểm các bài kiểm tra đánh giá đó của học phần thì sai
số sẽ tiến tới nhỏ nhất, và điểm trung bình biểu kiến sẽ tiến tới điểm thực.
Với bối cảnh thời 4.0, yêu cầu phẩm chất và năng lực nguồn nhân lực và sự
phát triển của khoa học giáo dục: bản chất dạy học ngày nay là dạy nhận thức và
tư duy, là dạy cách học (hướng dẫn học) như đã nêu ở trên. Vì vậy, kiểm tra đánh
giá thời 4.0 này cũng có những đổi mới có thể trình bầy ngắn gọn qua những nội
dung sau:
1- Đổi mới Mục tiêu kiểm tra đánh giá:
Trước đây, khi giáo dục là truyền thụ kiến thức, thì mục tiêu kiểm tra đánh
giá là kết quả học tập (Assessment of learning), khi giáo dục là rèn luyện phẩm
chất và năng lực để chuẩn bị tiềm năng cho người học phát triển, thì mục tiêu
kiểm tra đánh giá là để hỗ trợ cho việc học của người học; Ngày nay, thông tin
bùng nổ, dạy không xuể, giáo dục là dạy cách học/cách kiến tạo kiến thức nên

235
coi kiểm tra đánh như một hoạt động dạy và học (Assessment as learning) mới
nâng cao hiệu quả của hướng dẫn học.
2- Đổi mới Triết lý kiểm tra đánh giá:
Trước đây triết lý kiểm tra đánh giá là đánh giá sự tiếp thu kiến thức, kỹ
năng của người học, nên câu hỏi/đề thi chủ yếu hỏi kiến thức/kỹ năng đã nắm/đã
thuộc đến mức độ nào. Ngày nay, do bản chất dạy học là dạy nhận thức và tư
duy, nên triết lý kiểm tra đánh giá là đánh giá năng lực nhận thức và tư duy của
người học, câu hỏi đề thi lúc này nhằm vào đánh giá năng lực nhận thức và năng
lực tư duy, qua một tình huống cụ thể nào đó, người học đạt đến mức độ nào
nhận thức (phân tích, bình luận-đánh giá và sáng tạo) và tư duy (hệ thống, phê
phán và sáng tạo) về tính huống đó.
Đổi mới Phương pháp kiểm tra đánh giá:
Trước đây chủ yếu dùng câu hỏi/đề thi trắc nghiệm tự luận hay trắc nghiệm
khách quan. Ngày nay, giáo dục 4.0 gắn liền cới công nghệ cao, cho phép không
chỉ dùng các câu tự luận hay trắc nghiệm khách quan mà còn sử dụng mô tả tình
huống một cách linh hoạt qua các loại tranh, ảnh, đồ hình, câu đố thực và ảo…để
đánh giá phẩm chất (trí tuệ cảm xúc) và năng lực (nhận thức và tư duy) xác thực
hơn. Gần đây, để đánh giá năng lực trong tuyển chọn (người học, người làm việc
theo mục đích khác nhau …) nhờ công nghệ 4.0 đã sử dụng Phương pháp trắc
nghiệm thích ứng qua máy tính (Computerized Adaptive Testing) nghĩa là câu
hỏi ban đầu đưa ra được xác định mức năng lực cho trước, nếu đạt ngay thì câu
hỏi tiếp theo trong cuộc thi sẽ đòi hỏi ngay mức năng lực cao hơn mức trước, cứ
như vậy tiếp diễn cho đến khi đạt tới giới hạn nào đó thì dừng, do đó cuộc thi
không cần tốn thời gian và nhanh chóng xác định được chính xác mức năng lực
người dự tuyển để quyết định tuyển hay không tuyển.
Đổi mới Hình thức kiểm tra đánh giá
Trước đây kiểm tra viết qua các câu hỏi chủ yếu ở mức nhận thức, tư duy
thấp (nhớ, hiểu, áp dụng) nên không cho mở tài liệu; ngày nay câu hỏi chủ yếu
hỏi nhận thức bậc cao (phân tích, đánh giá, sáng tạo) nên cho truy tìm tài liệu để
làm bài. Trước đây thi vấn đáp bằng câu tự luận chấm thiếu chính xác và khách
quan, ngày này thi vấn đáp bằng câu trắc nghiệm, đánh giá ngẫu nhiên tức thời
và trực tiếp nên chính xác đồng thời về phẩm chất và năng lực, lại khách quan
hơn. Trước đây kiểm tra đánh giá theo bài làm cá nhân, ngày nay kiểm tra đánh
gia chủ yếu thông qua nhóm, để rèn luyện được năng lực hợp tác, chia sẻ được
nhận thức và tư duy, giúp san bằng tri thức, chống phân hóa trình độ giữa người
học với nhau. Trước đây trọng số chỉ dồn cho bài thi cuối kỳ, thiếu chính xác và
khách quan; ngày nay kiểm tra đánh giá qua hồ sơ học tập (qua các sản phẩm
học tập trong quá trình học học phần) nên chính xác và khách quan hơn.

