
TUYEÅN TAÄP KEÁT QUAÛ KHOA HOÏC & COÂNG NGHEÄ 2017 - 2018
VIEÄN KHOA HOÏC THUÛY LÔÏI MIEÀN NAM 183
HIỆN TRẠNG ĐƯỜNG DI CƯ QUA ĐẬP Ở HỒ CHỨA PHƯỚC HÒA VÀ
KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CHO TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium
rosenbergii)
CURRENT STATE OF FISH-PASSAGE IN PHUOC HOA RESERVOIR AND
ADAPTION POSSIBILITY FOR FRESHWATER GIANT PRAWN (Macrobrachium
rosenbergii)
Vũ Văn Hiếu1, Vũ Cẩm Lương2, Nguyễn Nghĩa Hùng1,
Trần Hồng Thủy2, Di Tiến Học2, Nguyễn Tuyết Kiều Diễm2
1 Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
2 Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Đường di cư qua đập (ĐDCQĐ) ở hồ chứa Phước Hòa (PH) được xây dựng năm
2011 trên địa bàn xã An Thái, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nhằm giảm thiểu
các tác động của đập PH đối với các loài thủy sản di cư, trong đó có tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii). Tuy nhiên, kết quả hai đợt khảo sát trong mùa mưa
(tháng 7/2017) và mùa khô (tháng 3/2018) cho thấy tình trạng xói lở, lắng đọng bùn
cát và rác thải xuất hiện tại một số vị trí trên ĐDCQĐ; việc quản lý ĐDCQĐ còn
nhiều chồng chéo, chưa có cơ quan hay bộ phận quản lý trực tiếp; người dân vẫn
thường xuyên đi vào khu vực ĐDCQĐ để đánh bắt cá; và ĐDCQĐ chỉ hoạt động
chủ yếu trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm), trong khi các tháng
còn lại trong năm thì hầu như không có nước để hoạt động. Thêm vào đó, ĐDCQĐ
nằm cách xa đập Phước Hòa, vận tốc nước tại nhiều điểm trên ĐDCQĐ còn lớn
cũng như độ sâu và nền đáy của ĐDCQĐ chưa phù hợp có thể là các nguyên nhân
khiến TCX chưa có sử dụng ĐDCQĐ ở PH trong thời gian qua. Trong khi, tôm càng
xanh (TCX) là một trong các loài thủy đặc sản đặc trưng và có giá trị kinh tế cao ở
lưu vực sông Đồng Nai và đang chịu tác động mạnh của các đập nước xây ở vùng
cửa sông. Thêm vào đó, qua nghiên cứu tổng quan cho thấy, TCX có động lực di cư
mang tính bản năng; tập tính di chuyển, dinh dưỡng và sinh sản phù hợp với việc di
chuyển qua ĐDCQĐ nếu được thiết kế phù hợp. Do đó, bài viết này nhằm đưa ra
các đánh giá về hiện trạng và khả năng thích ứng của ĐDCQĐ ở PH cho TCX (M.
rosenbergii) cũng như khả năng đi qua ĐDCQĐ dựa trên đặc điểm sinh học của
TCX, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ĐDCQĐ ở
PH khi xác định TCX là đối tượng mục tiêu của ĐDCQĐ.
Từ khóa: Đường di cư qua đập, Phước Hòa, tác động của đập, tôm càng xanh.
ABSTRACTS
The fish-passage in Phuoc Hoa Reservoir was constructed in 2011 at An Thai
commune, Phu Giao district, Binh Duong province to minimize the impact of the dam
on aquatic species migration, including the giant freshwater prawn (Macrobrachium
rosenbergii). However, the survey results in the rainy season (July 2017) and the dry

TUYEÅN TAÄP KEÁT QUAÛ KHOA HOÏC & COÂNG NGHEÄ 2017 - 2018
184 VIEÄN KHOA HOÏC THUÛY LÔÏI MIEÀN NAM
season (March 2018) showed that there are many problems related to the fish-passage
such as the appearance of erosion, sedimentation and rubbish in several locations on
the fish-passge, overlapping management of the fish-passage, without management
from any direct agencies or organizations, usually-carry-out-fishing-activities-in-the-
fish-passage fishermen, main operation of fish-passage in the rainy season (from May
to November) and lack of water for fish-passage operation in the dry seasons (from
December to April) . In addition, what the fish-passage is located far from Phuoc Hoa
Dam and has strong water velocity in several sites; the depth and bottom of the fish-
passage is not suitable for the giant freshwater prawn are the reasons why the prawn
has not used the fish-passage last time. While M. rosenbergii is one of the most special
and valuable aquatic species in the Dong Nai river basin and is strongly impacted by
dams in estuary. Moreover, the literature review proved that the instinctive migratory
motivation and the movement, nutrition and reproduction behavior of M. rosenbergii
are suitable for passing fish-passage if properly designed. Thereby, this article aims to
provide an assessment of the state of the fish-passage in Phuoc Hoa as well as
adaptability for the giant freshwater prawn (M. rosenbergii) and the fishway-passing
ability of the prawn based on the biological characteristics of M. rosenbergii in order
to provide solutions for improving the effectiveness of the fish-passage in Phuoc Hoa
and identifying M. rosenbergii as the main target for the design and construction of
fish-passage.
Keywords: Fish-passage, Phuoc Hoa, the impact of dam, the giant freshwater
prawn.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu về ĐDCQĐ đã được thực hiện nhiều trên thế giới, tuy nhiên đây là
vấn đề mới ở Việt Nam cả ở khía cạnh lý thuyết và thực tiễn. ĐDCQĐ đầu tiên và duy
nhất của Việt Nam ở đập thủy lợi Phước Hòa sau gần 7 năm đưa vào sử dụng hiện vẫn
chưa có các nghiên cứu đánh giá hiệu quả và hiện trạng. Mặt khác, ĐDCQĐ ở Phước
Hòa thuộc lưu vực sông Bé (một phụ lưu của hệ thống sông Đồng Nai) nơi có số lượng
các thủy sản di cư có tiềm năng di chuyển qua ĐDCQĐ rất đa dạng như tôm càng xanh
(M. rosenbergii), cá chình hoa (Anguilla marmorata), cá linh (Henicorhynchus
siamensis), cá dảnh (Puntioplites proctozysron), cá lăng (Mystus nemurus), cá chốt sọc
(Mystus mysticetus) (Vũ Vi An và Nguyễn Nguyễn Du, 2011)… Trong đó, TCX được
xem là loài cần được ưu tiên theo dõi, bảo vệ và xây dựng ĐDCQĐ vì: (1) là loài di cư
sinh sản giữa các vùng nước lợ và ngọt nên chịu tác động lớn bởi các đập nước ở vùng
cửa sông, thậm chí có thể biến mất khỏi các lưu vực sông trong tự nhiên nếu các bãi đẻ
không được duy trì ở trên dòng chính và phụ lưu của sông; (2) là loài thủy sản kinh tế
được công nhận trong khu vực và trên thế giới; (3) là loài thủy sản bản địa đặc trưng ở
khu vực xung quanh ĐDCQĐ ở Phước Hòa. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá hiện
trạng ĐDCQĐ ở đập thủy lợi Phước Hòa và khả năng thích ứng cho TCX để đề xuất
các giải pháp điều chỉnh, sửa chữa phù hợp đối với ĐDCQĐ ở PH cho đối tượng mục
tiêu là loài TCX (M. rosenbergii).

TUYEÅN TAÄP KEÁT QUAÛ KHOA HOÏC & COÂNG NGHEÄ 2017 - 2018
VIEÄN KHOA HOÏC THUÛY LÔÏI MIEÀN NAM 185
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp khảo sát thực địa
Nghiên cứu đã khảo sát thực địa hai đợt đại diện cho mùa mưa (7/2017) và mùa
khô (3/2018) tại khu vực ĐDCQĐ ở PH. Trong quá trình khảo sát, tiến hành quan sát,
chụp ảnh và ghi nhận các thông tin về hiện trạng ĐDCQĐ ở PH, kết hợp khảo sát bằng
bảng câu hỏi soạn sẵn đối với 21 ngư dân; 3 cán bộ Phòng thủy sản thuộc Sở
NN&PTNT hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước; 2 cán bộ Ban Quản lý đập PH; 2 cán
bộ phụ trách mảng nông nghiệp và thủy sản của hai xã An Thái và An Linh tỉnh Bình
Dương. Nội dung bảng câu hỏi điều tra khảo sát bao gồm: thời gian hoạt động của
ĐDCQĐ trong năm, tình trạng người dân vào khu vực ĐDCQĐ để đánh bắt cá, hiệu
quả của ĐDCQĐ, tình trạng xạt lở hai bên bờ ĐDCQĐ, hiện trạng quản lý ĐDCQĐ…
2.2. Phương pháp chuyên gia
Tiến hành trao đổi với một số chuyên gia đã từng làm dự án hoặc tư vấn cho dự án
xây dựng ĐDCQĐ ở PH ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2, Viện Khoa học
Thủy lợi miền Nam, Ban quản lý (BQL) đập Phước Hòa cũng như các chuyên gia về
thủy sản tại Trường Đại học Nông Lâm, Trường Đại học Khoa học tự nhiên và Trường
Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
2.3. Phương pháp tổng quan tài liệu
Tiến hành tổng quan tài liệu các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về đặc
điểm sinh học của TCX liên quan tới khả năng di cư qua ĐDCQĐ.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Giới thiệu về thiết kế ĐDCQĐ ở hồ thủy lợi Phước Hòa
Đường di cư qua ở PH được thiết kế theo mô hình ĐDCQĐ dạng kênh tự nhiên
với chiều dài 1,9 km, độ dốc dọc theo ĐDCQĐ thay đổi từ 0,7 đến 1,43% và vận tốc
nước được giới hạn dưới 0,6 m/giây. ĐDCQĐ được chia làm 3 phần: (1) Đoạn cửa ra
phía trên ĐDCQĐ: Bao gồm đoạn được xây dựng tường bao với chiều dài 144 m (hình
1) ra tới cống ngầm qua đường dân sinh. Trong cống ngầm có kết hợp van điều tiết
nước: Tiết diện chữ nhật, cửa van bằng thép, đóng mở bằng máy vít chạy điện kết hợp
thủ công (hình 2); (2) Đoạn đường dẫn chính: Tính từ van khóa nước xuống tới cửa vào
ĐDCQĐ, trong đó, phần lớn là đoạn kênh đất, chỉ có khoảng 400 m đoạn kênh được lót
đá cuội tạo thành các dốc nhám (hình 3). Thêm vào đó, nhiều hồ nghỉ cho cá được bố trí
dọc theo chiều dài của ĐDCQĐ (hình 4); (3) Cửa vào phía dưới ĐDCQĐ: Cửa vào
ĐDCQĐ dạng kênh đất có lót lớp đá cuội bên dưới (không được bê tông hóa) và được
đặt ở vị trí cách xa thân đập PH (hình 9 và hình 12).

TUYEÅN TAÄP KEÁT QUAÛ KHOA HOÏC & COÂNG NGHEÄ 2017 - 2018
186 VIEÄN KHOA HOÏC THUÛY LÔÏI MIEÀN NAM
Hình 1. Đoạn cửa vào được xây dựng tường bao Hình 2. Van khóa điều tiết nước cho ĐDCQĐ
Hình 3. Lớp đá cuội được lót dưới nền ĐDCQĐ
Hình 4. Khu nghỉ cho cá được bố trí trên ĐDCQĐ ở PH
3.2. Hiện trạng đường di cư qua đập ở hồ chứa Phước Hòa
- Về cơ sở hạ tầng ĐDCQĐ:
Sau hơn 6 năm đưa vào sử dụng, hiện nay ĐDCQĐ đã xuống cấp nhiều so với
thiết kế ban đầu. Cụ thể, (1) hai bờ của ĐDCQĐ bị xói lở tại nhiều vị trí: Qua hai đợt
khảo sát cả trong mùa mưa và mùa khô cho thấy nhiều vị trí tại hai bên bờ ĐDCQĐ đã
bị xói lở nghiêm trọng do hai bờ kênh không được gia cố bê tông hoặc trồng cây (hình
5); (2) tại nhiều vị trí trên ĐDCQĐ đã bị lắng đọng bùn cát và rác thải nằm trong
ĐDCQĐ vào mùa khô (hình 6).
Lớp đá cuội
Hồ nghỉ cho cá

TUYEÅN TAÄP KEÁT QUAÛ KHOA HOÏC & COÂNG NGHEÄ 2017 - 2018
VIEÄN KHOA HOÏC THUÛY LÔÏI MIEÀN NAM 187
Hình 5. Xói lở bờ ĐDCQĐ (tháng 2/2017) Hình 6. Rác thải nằm trong ĐDCQĐ
- Về hiện trạng quản lý ĐDCQĐ:
Kết quả khảo sát cho thấy, việc quản lý ĐDCQĐ ở PH còn nhiều chồng chéo,
chưa có cơ quan hay bộ phận quản lý trực tiếp nào. Cụ thể, khảo sát BQL đập PH và Ủy
ban nhân dân xã An Thái thì BQL cho rằng họ chỉ quản lý về thủy lợi và điều tiết nước
cho đập Phước Hòa, trong đó có điều tiết nước cho ĐDCQĐ chứ không quản lý về việc
khai thác và quản lý nguồn lợi thủy sản tại đây (việc này thuộc trách nhiệm quản lý của
chính quyền xã An Thái). Thêm vào đó, theo đại diện của phòng Thủy sản của Sở NN
và PTNT tỉnh Bình Phước cho rằng ĐDCQĐ thuộc về quyền quản lý của tỉnh Bình
Dương và về phía tỉnh Bình Dương thì lại cho rằng ĐDCQĐ thuộc quyền quản lý của
dự án thủy lợi PH mà trực tiếp là BQL đập PH.
Mặt khác, các văn bản qui định về quản lý nguồn lợi thủy sản và khai thác thủy
sản được các cơ quan ban hành cũng chỉ mang tính chất chung chung, chủ yếu là cho
khu vực đập chứ không có một văn bản cụ thể nào cho ĐDCQĐ (hình 7).
Hình 7. Quy chế đánh bắt cá ở khu vực đập PH (có áp dụng cho cả ĐDCQĐ)
- Về tình trạng vi phạm các quy định về đánh bắt thủy sản trong ĐDCQĐ ở PH:
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, tình trạng người dân vào khu vực ĐDCQĐ ở PH
để đánh bắt thủy hải sản diễn ra thường xuyên và khó kiểm soát. Các hình thức người
dân đánh bắt thủy sản trong ĐDCQĐ bao gồm đi câu, đặt lú hoặc giăng lưới bắt cá tại
các khu vực nghỉ, lối vào ĐDCQĐ (hình 8 và hình 9).

