
Đường đi đến phương đông
Một thế kỷ sau cái chết của Chúa Giêsu, những tín hữu can
trường đã trẩy đi Giêrusalem để sám hối, tạ ơn, hay chỉ để được đi trên
những nẻo đường mà Đấng Cứu Thế của họ đã đi.
"Ánh sáng xuất tự phương Đông..." Tục ngữ Latinh
" Đi hết Đông thì gặp Tây" Tục ngữ Anh.
Ở thời Trung Cổ, nếu niềm tin đã vẽ các bản đồ theo óc tưởng tượng
và giam hãm người Kitô giáo trong khoa địa lý giáo điều, thì cũng niềm tin
đó đã lôi cuốn khách hành hương và những đoàn quân thập tự chinh lên
đường khám phá phương Đông. Ngôi Sao đã từng dẫn đường cho Ba Vua
đến Bêlem, cũng hướng dẫn tầng tầng lớp lớp tín hữu đến Đất Thánh vào
các thế kỷ sau đó. Hành hương đã trở thành một tục lệ Kitô giáo và dẫn đến
đức tin, cũng sẽ trở thành con đường dẫn tới những khám phá.
Một thế kỷ sau cái chết của Chúa Giêsu, có những tín hữu can trường
đã trẩy đi Giêrusalem để sám hối, tạ ơn, hay chỉ để được đi trên những nẻo

đường mà Đấng Cứu Thế của họ đã đi. Sau khi hoàng đế Constantin trở
thành tín đồ Kitô giáo, mẹ ông là hoàng thái hậu Hêlêna đến Giêrusalem vào
năm 327, trở thành nhà khảo cổ, lập Núi Canvê, thu thập những mảnh gỗ
được coi là của cây Thánh Giá đích thực và khám phá ra Mộ Thánh, nơi
người ta cho rằng đã chôn cất Chúa Giêsu. Ngay tại đây, chính vua
Constantin xây ngôi Thánh Đường Mộ Thánh đầu tiên. Thánh Giêrôm, một
nhà bác học, đã đến ở tại một vụ viện ở Bêlem do một phụ nữ quý tộc Rôma
là thánh Paola bảo trợ. Tại đây thánh Giêrom giảng cho các tín hữu sau khi
họ đi viếng các nơi thánh. Vào đầu thế kỷ 5, đã có hai trăm tu viện và nhà
trọ ở quanh Giêrusalem cho khách hành hương. Thánh Augustin và các Giáo
phụ khác đã khuyên các khách hàng hương đến Giêrusalem đừng để mình bị
lôi cuốn bởi những cuộc hành trình mà quên mất Thành Đô Thiên Quốc. Thế
nhưng dòng thác những khách hành hương vẫn tiếp tục đổ vào Giêrusalem,
với đông đảo những người hướng dẫn luôn sẵn sàng phục vụ và vô số quán
trọ khắp dọc đường.
Hình ảnh người hành hương lãnh phép lành của linh mục trước khi
khởi hành, tay cầm gậy và vỏ ngọc trai, đầu đội một triều thiên và đeo phù
hiệu của nơi đến, đã trở thành một hình ảnh đầy ấn tượng của toàn cảnh thời
trung cổ. Nếu hiểu đúng nghĩa của nó, người hành hương là người lên đường

đi đến một nơi thánh, là một tín hữu lang thang có thể suốt đời phiêu bạt từ
một nơi thánh này đến một nơi thánh khác.
Đế quốc Rôma suy tàn, cùng với sự nổi dậy của quân cướp biển, quân
Vandal và những quân cướp phá khác, đã khiến cho số phận của người hành
hương đầy khó khăn và nguy hiểm. Cuộc chinh phục ngày càng lan rộng của
người Ả Rập quanh vùng biển Địa Trung Hải, sự ra đời của Hồi giáo và con
số người hành hương Hồi giáo gia tăng đã làm tắc nghẽn những con đường
đi lại của người hành hương Kitô giáo và khơi dậy một cuộc tranh giành
Giêrusalem thật chua xót. Tảng đá ở Núi Đền Thờ, khu Đền Thờ của
Salômôn, chính là nơi Môhamét đã lên trời. Một số truyền thuyết Hồi giáo
coi Giêrusalem chứ không phải Mecca là trung tâm và rốn của trái đất, "nơi
cao nhất trên trái đất và gần trời nhất". Khi giáo chủ Omar thắng trận cưỡi
một con lạc đà trắng tiến vào Giêrusalem chỉ sáu năm sau cái chết của
Môhamét, ông đã mở ra một cuộc chiến ngàn năm để giành giật những nơi
thánh.
Thời đại lớn của các cuộc hành hương Kitô giáo bắt đầu ở thế kỷ 10.
Những người Hồi giáo nói chung tỏ ra khoan nhượng, có thể là khinh bỉ,
những "quân vô đạo" cuồng nhiệt này. Nhưng khi miền Đất Thánh xa xôi trở
nên khó đến, những người Kitô giáo đạo đức đã tìm cách đem hương vị của

các cuộc hành hương vào trong nhà của mình. Họ sáng tạo những câu
chuyện pha trộn giữa lịch sử xã hội, thần thoại và những truyện dân gian.
Trong sách truyện hành hương nổi tiếng Guide de Pèlerin, người ta có thể
đọc thấy câu chuyện một khách hành hương đến xin một miếng bánh mì của
một người đàn bà ở Villeneuve khi bà đang nướng trong lò. Bà từ chối và
khi bà quay lại lấy bánh, thì chỉ thấy một hòn đá tròn. Cũng có chuyện
những khách hành hương qua Poitiers đi hỏi hết một dãy phố mới có một
nhà chịu cho họ trọ qua đêm. Ngay đêm đó, mọi căn nhà trên dãy phố đều bị
cháy rụi, trừ căn nhà đã cho họ ở trọ. Các anh hùng ca như Chansons de
Geste kể về những khách hành hương anh hùng.
Nơi thu hút khách hành hương nhiều nhất ở châu Âu là Rôma,
"ngưỡng cửa của các thánh Tông Đồ". Thánh Bede Đáng Kinh 673-735
thuật lại đoạn đường đi đến Rôma của người Britông gồm "người sang cũng
như hèn, tín hữu cũng như giáo sĩ, nam cũng như nữ", khát khao dành một ít
những cuộc "hành hương trần thế" gắn những nơi thánh, "để hi vọng đáng
được nồng nhiệt đón nhận bởi các thánh trên trời". Khoảng năm 727, vua Ina
của Wessex đã lập một nhà trọ đặc biệt ở Rôma cho các khách hành hương
Saxông. Dòng thác người hành hương từ nước Anh và những nơi khác đổ về
Rôma ngày càng lớn sau khi các cuộc Thập tự chinh để tái chiếm
Giêrusalem bị thất bại.

Cùng thời kỳ này, những sức mạnh ở viễn tây, một đời sống thương
mại mới và mức dân số không ngừng gia tăng đã làm cho làn sóng hành
hương tràn ngập. Dân Norman, hậu duệ của những người Norse hồi thế kỷ
10 từng tràn qua Normandie ở phía bờ biển bắc nước Pháp, đã trở lại Kitô
giáo và phái đội quân viễn chinh của họ đi khắp nơi. William Nhà Chinh
Phục đã đưa họ tới nước Anh năm 1066. Họ bủa đi khắp vùng biển Địa
Trung Hải, đánh chiếm miền nam Italia và tới năm 1130 đã thiết lập vương
quốc Sicily, là nơi những người Kitô, Do Thái và ả Rập chung sống và trao
đổi về tri thức, nghệ thuật và tư tưởng.
... Xét về nhiều phương diện, sự thất bại của các cuộc Thập tự
chinh lại là sự may phước cho các nước Kitô giáo và là một chất xúc tác
cho châu Âu khám phá ra thế giới phương Đông...
Khi Đức Urban II lên ngôi Giáo hoàng vào năm 1088, Giáo hội đang
ở trong một tình trạng cần cải tổ cấp bách, do những sự nhũng lạm của việc
mua bán ân xá và chức tước, cùng với sự chia rẽ do sự tranh chấp của một
phản - Giáo hoàng. Giáo hoàng Urban II là một nhà cải cách đầy nghị lực,
ngài đã sử dụng tài tổ chức và hùng biện của mình để thanh tẩy và chữa
lành. Hoàng đế phương Đông hồi đó là Alexius Comnenus thấy thủ đô
Byzance của mình bị quân Hồi đe dọa, đa gửi sứ giả tới Giáo hoàng Urban

