
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁ NG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
335
GIẢI MẪN CẢM 16 BƯỚC Ở NGƯỜI BỆNH DỊ ỨNG MỨC NẶNG
VỚI RITUXIMAB: BÁO CÁO 1 TRƯỜNG HỢP LÂ M SÀ NG
Nguyễn Thị Kim Ngâ n1, Quã ng Hữu Tà i1,
Kiều Thị Mỹ Liên1, Lê Thế Đức Tà i1,2, Trịnh Thuỳ Dương1
TÓ M TẮT40
Mục tiêu: Báo cáo một trường hợp U
lympho khô ng Hodgkin tế bà o B lớn dị ứng nặng
với Rituximab được điều trị thà nh cô ng bằng
phương pháp giải mẫn cảm 16 bước. Đối tượng
nghiên cứu: Người bệnh nữ, 47 tuổi, chẩn đoán
U lympho khô ng Hodgkin tế bà o B lớn, khô ng
đặc hiệu, nhó m trung tâ m mầm dị ứng mức độ
nặng với Rituximab. Phương pháp nghiên cứu:
Mô tả trường hợp. Kết quả: Người bệnh nữ 47
tuổi, được chẩn đoán U lympho không Hodgkin
tế bà o B lớn lan toả, không đặc hiệu, nhó m
khô ng trung tâ m mầm. Phác đồ hoá trị liệu đa tác
nhâ n phối hợp với Rituximab được lựa chọn để
điều trị. Tuy nhiên, người bệnh bị phản vệ độ III
với 2 loại chế phẩm Rituximab (Mabthera và
Rixathone) và Obinuzumab (kháng thể đơn dòng
kháng CD20 thế hệ 2). Điều nà y, khiến cho
người bệnh chỉ được điều trị ban đầu với phác đồ
hoá trị liệu CHOEP nhưng căn bệnh lại tiến triển
và xâ m lấn thần kinh trung ương sau khi kết thúc
6 chu kì điều trị. Tại thời điểm nà y chúng tô i,
buộc lò ng phải sử dụng phác đồ hoá trị bước 2
phối hợp với Rituximab. Trong đó, Rituximab
được truyền theo phương pháp giải mẫn cảm 16
1Bệnh viện Truyền mÆu Huyết học
2Trường Đại học Khoa Học Sức Khỏe
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Kim Ngâ n
SĐT: 0374567123
Email: nganntk2@bth.org.vn
Ngà y nhận bà i: 30/04/2025
Ngà y phản biện khoa học: 15/06/2025
Ngà y duyệt bà i: 30/07/2025
bước. Mặc dù vẫn cò n xảy phản ứng trong lúc
truyền thuốc nhưng mức độ nhẹ hơn và kiểm soát
được, nên người bệnh đã được sử dụng đầy đủ
liều Rituximab. Những lần truyền Rituximab sau
đó người bệnh vẫn tiếp tục sử dụng phương pháp
giải mẫn cảm 16 bước nà y và khô ng có bất kì
dấu hiệu nà o phản ứng với Rituximab. Kết luận:
Giải mẫn cảm 16 bước là phương pháp giải mẫn
cảm tiềm năng giúp người bệnh bị phản ứng với
Rituximab trước đó có thể dung nạp và sử dụng
loại thuốc kháng thể đơn dòng này. Điều dưỡng
giữ vai trò quan trọng trong chăm sóc, theo dõi
người bệnh, phối hợp và xử trí kịp thời các phản
ứng, qua đó đảm bảo quy trình giải mẫn cảm diễn
ra an toà n, thà nh cô ng.
Từ khó a: Phản ứng rituximab, giải mẫn cảm
16 bước.
SUM M ARY
16-STEP DESENSITIZATION IN
PATIENT WITH SEVERE ALLERGIC
WITH RITUXIMAB: A CASE REPORT
Objective: To report a case of Diffuse Large
B-cell Non-Hodgkin Lymphoma with severe
allergic reaction to Rituximab successfully
treated using a 16-step desensitization protocol.
Study subject: A 47-year-old female patient
diagnosed with Diffuse Large B-cell Non-
Hodgkin Lymphoma, not otherwise specified
(NOS), germinal center subtype, who
experienced a severe allergic reaction to
Rituximab. Method: Case report. Result: A 47-
year-old female patient was diagnosed with
diffuse large B-cell lymphoma, non-specific,

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁ U HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
336
non-germinal center group. A multi-agent
chemotherapy regimen combined with Rituximab
was chosen for treatment. However, the patient
had grade III anaphylaxis to 2 types of Rituximab
preparations (Mabthera and Rixathone) and
Obinuzumab (2nd generation anti-CD20
monoclonal antibody). As a result, the patient
only received the CHOEP chemotherapy regimen
at first. However, after six treatment cycles, the
disease worsened progressing to the central
nervous system. At this point, we were forced to
use the 2nd step chemotherapy regimen
combined with Rituximab. In which, Rituximab
was infused using the 16-step desensitization
method. Although there were still reactions
during the drug infusion, the severity was milder
and controllable, so the patient was given the full
dose of Rituximab. The patient continued to
receive this 16-step desensitization regimen for
subsequent Rituximab infusions and showed no
signs of reaction to Rituximab. Conclusion: 16-
step desensitization is a potential desensitization
protocol that could potentially assist patients who
have been previously hypersensitive to
Rituximab to tolerate and use this monoclonal
antibody. Nurses play an importan role in patient
care, close monitoring, interdisciplinary
coordination, and prompt management of adverse
reactions, thereby ensuring the desensitization
protocol is conducted safely and effectively.
Keywords: Rituximab reaction, 16-step
desensitization protocol.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rituximab là một kháng thể đơn dòng
kháng CD20, đóng vai trò thiết yếu trong các
phác đồ điều trị các u lympho khô ng
Hodgkin tế bà o B, giúp cải thiện đáng kể tiên
lượng cho người bệnh. Tuy nhiên, việc sử
dụng thuốc này cũng đặt ra nhiều thách thức
do nguy cơ gây phản ứng quá mẫn từ nhẹ
đến rất nghiêm trọng, bao gồm cả sốc phản
vệ. Trên thực tế, tỷ lệ người bệnh gặp phản
ứng trong lần truyền Rituximab đầu tiên khá
cao, và khoảng 5–10% số lần truyền có biểu
hiện phản ứng kiểu dị ứng IgE (trong đó có
phản vệ) [1]. Những phản ứng nặng nề nà y
thường khiến người bệnh buộc phải ngừng
thuốc, dẫn đến việc gián đoạn hoặc thất bại
điều trị. Giải mẫn cảm với thuốc là phương
pháp cuối cùng có thể áp dụng khi hiện nay
Rituximab vẫn là liệu pháp điều trị tối ưu
trên mặt bệnh nà y. Quy trình nà y cho phép
người bệnh tiếp xúc lại với Rituximab bằng
cách tăng dần liều từng bước một cách thận
trọng, nhằm tạo ra sự dung nạp tạm thời.
Trên thế giới, nhiều cơ sở đã triển khai thà nh
công các phác đồ giải mẫn cảm nhanh đối
với Rituximab – phổ biến nhất là phác đồ 12
bước và trong trường hợp người bệnh có tiền
sử phản vệ nặng có thể áp dụng phác đồ 16
bước [1].
Điều dưỡng giữ vai trò rất quan trọng
trong việc thực hiện giải mẫn cảm an toà n, từ
khâ u chuẩn bị thuốc theo đúng các bước pha
loãng tăng dần, theo dõ i sát sao dấu hiệu sinh
tồn và triệu chứng của người bệnh trong suốt
quá trình truyền, cho đến hỗ trợ bác sĩ xử trí
kịp thời khi có dấu hiệu quá mẫn. Việc cập
nhật kiến thức và chia sẻ kinh nghiệm về giải
mẫn cảm Rituximab từ góc độ thực hà nh
điều dưỡng là rất cần thiết. Tuy nhiên, cho
đến nay tại Việt Nam các bà i báo cáo hay
nghiên cứu được cô ng bố về phương pháp
nà y vẫn cò n rất hạn chế. Do đó, chúng tôi
báo cáo một trường hợp người bệnh u
lympho khô ng Hodgkin tế bà o B lớn lan tỏa
có tiền sử phản ứng phản vệ mức độ nặng
với Rituximab đã được điều trị thà nh cô ng
bằng phác đồ giải mẫn cảm 16 bước.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁ NG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
337
II. CA LÂ M SÀ NG
Người bệnh nữ 47 tuổi, được chẩn đoán
U lympho khô ng Hodgkin tế bà o B lớn lan
toả, không đặc hiệu, nhó m khô ng trung tâ m
mầm. Phác đồ hoá trị liệu đa tác nhân phối
hợp với Rituximab được lựa chọn để điều trị.
Tuy nhiên người bệnh mắc phản vệ độ III với
2 loại chế phẩm Rituximab (Mabthera và
Rixathone) và Obinuzumab (kháng thể đơn
dò ng kháng CD20 thế hệ 2). Điều nà y, khiến
cho người bệnh chỉ được điều trị ban đầu với
phác đồ hoá trị liệu CHOEP nhưng căn bệnh
lại tiến triển và xâ m lấn thần kinh trung ương
sau khi kết thúc 6 chu kì điều trị. Tại thời
điểm nà y chúng tô i, buộc lò ng phải sử dụng
phác đồ hoá trị bước 2 phối hợp với
Rituximab. Trong đó, Rituximab được truyền
theo phương pháp giải mẫn cảm 16 bước.
Mặc dù vẫn cò n xảy phản ứng trong lúc
truyền thuốc nhưng mức độ nhẹ hơn và kiểm
soát được, nên người bệnh đã được sử dụng
đầy đủ liều Rituximab. Những lần truyền
Rituximab sau đó người bệnh vẫn tiếp tục sử
dụng phương pháp giải mẫn cảm 16 bước
nà y và khô ng có bất kì dấu hiệu nà o phản
ứng với Rituximab.
Quá trình giải mẫn cảm trên người
bệnh của chúng tôi được thực hiện như
sau
Thông thường phác đồ thực hiện
Rituximab sẽ được truyền kéo dà i trong
khoảng 5 -7 giờ ở những người bệnh tạm ổn,
khô ng quá mẫn cảm với tác dụng phụ xảy ra
khi truyền thuốc. Tuy nhiên, ở người bệnh
trong trường hợp nà y, với mức phản vệ từ độ
3 trở lên, thì thời gian truyền thuốc chúng tô i
sẽ kéo dài đến 12 -13 giờ, song song với chia
nhỏ liều thuốc kết hợp pha loãng từng đơn vị
thuốc lên gấp nhiều lần so với phác đồ thô ng
thường, người bệnh được theo dõ i liên tục
mỗi 15 phút truyền và sẽ tăng dần tốc độ lên
gấp đôi tốc độ trước, với nguyên tắc: các dấu
hiệu sinh tồn của người bệnh vẫn ổn cho đến
khi hoà n tất quá trình truyền thuốc. Các loại
thuốc ngăn ngừa phản ứng dị ứng vẫn được
áp dụng trước thời gian bắt đầu truyền thuốc
1 giờ: hydrocortison, methylprednison...
nhằm đảm bảo an toàn người bệnh.
Bảng 1. Bảng minh họa chi tiết cách pha thuốc và theo dõ i
Liều thuốc
Nồng độ pha
Tốc độ truyền
Thời gian theo dõ i
Rituximab
100mg 1 lọ
0,5mg + 500ml
Natriclorid 0,9 %
2ml trong 15 phút đầu
5ml trong 15 phút tiếp theo
10ml trong 15 phút tiếp theo
20ml trong 15 phút tiếp theo
Mỗi 15 phút nếu người bệnh
ổn sẽ tiếp tục chỉnh tốc độ
như phác đồ
Rituximab
100mg 1 lọ
5mg + 500ml
Natriclorid 0,9 %
2ml trong 15 phút đầu
5ml trong 15 phút tiếp theo
10ml trong 15 phút tiếp theo
20ml trong 15 phút tiếp theo
Mỗi 15 phút nếu người bệnh
ổn sẽ tiếp tục chỉnh tốc độ
như phác đồ
Rituximab
100mg 1 lọ
50mg + 500ml
Natriclorid 0,9 %
5ml trong 15 phút đầu
10ml trong 15 phút tiếp theo
20ml trong 15 phút tiếp theo
40ml trong 15 phút tiếp theo
Mỗi 15 phút nếu người bệnh
ổn sẽ tiếp tục chỉnh tốc độ
như phác đồ
Rituximab
500mg 1 lọ
500mg + 500ml
Natriclorid 0,9 %
5ml trong 15 phút đầu
10ml trong 15 phút tiếp theo
20ml trong 15 phút tiếp theo
40ml trong 736 phút tiếp theo
Mỗi 15 phút đến khi kết thúc
nếu người bệnh ổn sẽ tiếp tục
chỉnh tốc độ như phác đồ

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁ U HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
338
III. BÀ N LUẬN
Người bệnh trong báo cáo nà y có tiền sử
dị ứng mức độ nặng với Rituximab nhưng đã
được điều trị thà nh cô ng bằng quy trình giải
mẫn cảm 16 bước. Nhờ sự theo dõ i sát sao
trong suốt quá trình truyền thuốc kéo dà i, và
kịp thời phát hiện những dấu hiệu sớm của
phản ứng quá mẫn, do đó chúng tôi đã có thể
can thiệp ngay lập tức – tạm ngưng truyền
thuốc, sử dụng thuốc chống dị ứng. Kết quả
là người bệnh dung nạp được toà n bộ liều
Rituximab dự kiến mà khô ng gặp biến cố
nghiêm trọng.
Kết quả trên phù hợp với các nghiên cứu
lớn trên thế giới về giải mẫn cảm thuốc. Đối
với các kháng thể đơn dòng, nghiên cứu của
Brennan và cộng sự (2009) cũng cho thấy tỷ
lệ phản ứng trong quá trình giải mẫn cảm là
khoảng 29%, đa số là nhẹ và chỉ 2 ca phản
ứng nặng, khẳng định tính khả thi của giải
mẫn cảm cho Rituximab và các thuốc sinh
học khác [2]. Gần đây, một phâ n tích hồi cứu
năm 2024 trên 45 người bệnh dị ứng với các
thuốc sinh học (trong đó có Rituximab) đã
cho thấy có 258/262 lượt giải mẫn cảm
(98,4%) được thực hiện thà nh cô ng – từ đó
phương pháp này được chứng minh tính an
toà n và hiệu quả cao; chỉ khoảng 13,9% lượt
truyền xuất hiện phản ứng dị ứng thoáng qua
trong quá trình giải mẫn cảm và đều được xử
trí ổn [3]. Những dữ liệu nà y có thấy rằng
hầu hết người bệnh dị ứng thuốc, kể cả dị
ứng nặng, đều có thể được giải mẫn cảm
thà nh cô ng với tỷ lệ lên tới ~98–99%, nếu
quy trình được thực hiện đúng và theo dõi
chặt chẽ [3].
Về phác đồ giải mẫn cảm, nhiều trung
tâ m khuyến cáo phác đồ 3 túi dung dịch, 12
bước cho đa số trường hợp, với tổng thời
gian truyền khoảng dưới 6 giờ. Phác đồ nà y
sử dụng ba dung dịch với nồng độ tăng dần,
truyền qua 12 bước – mỗi bước khoảng 15
phút, liều lượng tăng dần theo hệ số 2–2,5
lần và bước cuối truyền cho đến hết tổng liều
[4]. Trong trường hợp người bệnh nguy cơ
cao (ví dụ có tiền sử phản vệ độ 3–4 với
Rituximab, hoặc có bệnh tim phổi nặng), các
nghiên cứu và báo cáo đề xuất mở rộng
thành phác đồ 4 túi, 16 bước để tăng mức độ
an toà n. Cụ thể, phác đồ 16 bước bổ sung 4
bước truyền đầu tiên với dung dịch pha loã ng
1/1000 liều tổng, mỗi bước 15 phút trước khi
tiến vào 12 bước tiêu chuẩn. Tổng thời gian
truyền của phác đồ 16 bước khoảng 6 giờ 40
phút, dài hơn khoảng 40 phút so với phác đồ
12 bước thông thường [5]. Nhìn chung, phác
đồ 16 bước mặc dù phức tạp và tốn thời gian
hơn, nhưng được lựa chọn khi cần tối ưu hóa
độ an toà n cho người bệnh nguy cơ cao.
Điều dưỡng giữ vai trò rất quan trọng
trong việc triển khai thà nh cô ng quy trình
giải mẫn cảm Rituximab. Trước hết, điều
dưỡng phải được tập huấn đầy đủ để có thể
nhận diện sớm các dấu hiệu phản ứng dị ứng
ngay từ những phút đầu truyền thuốc: ví dụ
như cảm giác nó ng bừng, ngứa da, mẩn đỏ,
mề đay, ngứa họng, ho khan, tức ngực, thay
đổi huyết áp, nhịp tim,... Đây thường là
những triệu chứng sớm báo hiệu phản ứng
quá mẫn tức thì. Đồng thời, điều dưỡng
nhanh chóng báo bác sĩ và thực hiện y lệnh
cấp cứu, cụ thể trong trường hợp người bệnh
của chúng tôi, đội ngũ điều dưỡng hồi sức
tích cực đã kịp thời báo bác sĩ ngay từ những
thời điểm đầu khi người bệnh có các triệu
chứng cảnh báo (quá trình giải mẫn cảm của
người bệnh được thực hiện và theo dõ i sát
sao tại khoa hồi sức tích cực), các xử trí sau
đó bao gồm: thuốc kháng histamin,
corticosteroid tĩnh mạch, truyền dịch, và
chuẩn bị sẵn sà ng adrenaline nếu có dấu hiệu
sốc phản vệ. Nhờ quy trình xử trí đồng bộ

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁ NG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
339
nà y, hầu hết các phản ứng dị ứng trong quá
trình giải mẫn cảm đều được khống chế kịp
thời và người bệnh ổn định trở lại.
Bên cạnh việc theo dõi lâm sàng, đội ngũ
điều dưỡng trực tiếp chăm sóc cần phải điều
phối việc truyền dịch và chuẩn bị thuốc một
cách nhịp nhà ng trong suốt 16 bước. Trước
mỗi ca giải mẫn cảm, đội ngũ điều trị phối
hợp với khoa Dược để đảm bảo các dung
dịch pha loãng Rituximab được chuẩn bị
chính xác về nồng độ và thể tích theo từng
giai đoạn (ví dụ: dung dịch 1/1000, 1/100,
1/10...). Trong quá trình truyền thuốc, điều
dưỡng sẽ thiết lập tốc độ truyền ban đầu rất
chậm và tăng tốc cứ mỗi 15 phút. Mỗi lần
trước khi tăng liều, điều dưỡng đánh giá lại
người bệnh và đo các dấu hiệu sinh tồn
(mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO₂, nhiệt độ)
mỗi 15 phút. Việc theo dõ i sát sao từng giai
đoạn nhỏ như vậy giúp phát hiện ngay khi có
thay đổi bất thường về sinh hiệu hoặc triệu
chứng cơ năng. Công việc này đòi hỏi sự tập
trung cao độ và thực hà nh thuần thục: điều
dưỡng gần như túc trực 100% thời gian bên
giường bệnh trong nhiều giờ liền để bảo đảm
khô ng bỏ só t diễn biến nà o. Hiện nay, nhiều
cơ sở trên thế giới khuyến cáo phải bố trí tỷ
lệ điều dưỡng/bệnh nhâ n là 1:1 cho những ca
giải mẫn cảm nguy cơ cao, nhằm theo dõ i
liên tục và xử trí kịp thời nếu có sự cố [6].
Trong ca lâ m sà ng nà y, sự hợp tác nhịp
nhà ng giữa điều dưỡng – bác sĩ – dược sĩ đã
đảm bảo sự chăm sóc toàn diện, xử trí kịp
thời mọi diễn biến, qua đó hoàn thành điều
trị an toà n. Ngoà i ra, từ kinh nghiệm ca bệnh
nà y, có thể thấy nhu cầu cần phát triển đội
ngũ điều dưỡng chuyên trách về giải mẫn
cảm.
IV. KẾT LUẬN
Giải mẫn cảm 16 bước là phương pháp
giải mẫn cảm tiềm năng giúp người bệnh bị
phản ứng với Rituximab trước đó có thể
dung nạp và sử dụng loại thuốc kháng thể
đơn dòng này. Ngoài ra, sự thà nh cô ng của
quá trình giải mẫn cảm nà y cò n cho thấy tầm
quan trọng của việc phối hợp nhuần nhuyễn
của đội ngũ nhân viên y tế điều trị.
TÀ I LIỆU THAM KHẢO
1. Fouda GE, Bavbek S. Rituximab
Hypersensitivity: From Clinical Presentation
to Management. Front Pharmacol. 2020 Sep
8;11:572863.
2. Amoró s-Reboredo P, Sánchez-Ló pez J, et
al. Desensitization to rituximab in a
multidisciplinary setting. Int J Clin Pharm.
2015 Oct;37(5):744-8.
3. Unutmaz Erkaya DG, Bayrak Durmaz
MS, Görgülü Akın B, Bavbek S.
Retrospective analysis of rapid drug
desensitization with biologic agents: A single
center experience. Clin Transl Allergy. 2024
Oct;14(10):e12397.
4. Ataca P, Atilla E, Kendir R, Bavbek S,
Ozcan M. Successful desensitization of a
patient with rituximab hypersensitivity. Case
Reports Immunol. 2015;2015:524507.
5. V Villarreal-González R, E de Lira-
Quezada C, N González-Díaz S, L
Carrasco-Díaz L, González-Llano O.
Rituximab desensitization in pediatric acute
lymphoblastic leukemia with severe
anaphylaxis. J Oncol Pharm Pract. 2021
Apr;27(3):747-750.
6. Hong DIC. Desensitization for Allergic
Reactions to Chemotherapy. Yonsei Med J.
2019 Feb;60(2):119-125.

