
chưa có sản phẩm thặng dư, chưa có giai cấp trong xã hội lúc đó chưa có Nhà
nước và thuế.
Cùng với thời gian, lực lượng sản xuất phát triển có sự phân công lao động
trong xã hội làm cho năng xuất tăng lên xuất hiện sản phẩm thặng dư. Trong cộng
đồng có người giàu, kẻ nghèo hình thành các giai cấp khác nhau, giữa các giai
cấp này có mâu thuẫn về quyền lợi. Để giải quyết mâu thuẫn này cần thiết phải có
một tổ chức trung gian đứng ra điều hoà mâu thuẫn giai cấp đó là Nhà nước. Nhà
nước muốn tồn tại và phát triển cần phải có các cơ sở vật chất nhất định để nuôi
sống bộ máy của mình và để thực hiện các chương trình, dự án theo ý đồ của
mình. Để có thể làm được điều đó nhất thiết phải có nguồn Ngân Sách dự trữ,
nguồn Ngân Sách này có được có thể từ các nguồn: bắt buộc nhân dân đóng góp
thông qua nộp thuế, vay của nhân dân thông qua phát hàng công trái hoặc phát
hành tiền.
Trong ba nguồn tài trợ trên, thuế là nguồn tài trợ quan trọng hơn cả; vì thuế
có sự điều tiết, có sự chia sẻ, là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế của Nhà
nước, nó thể hiện quyền lực của Nhà nước và không mang tính hoàn trả trực tiếp,
ngang giá. Nếu phát sinh tiền quá nhiều sẽ gây ra lạm phát, còn vay của nhân dân
cuối cùng cũng phải hoàn trả, mà Nhà nước không có khoản thu nhập nào, nếu
không thu của dân lấy từ đâu như thế khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Qua đó ta thấy thuế ra đời với sự tồn tại và phát triển của nhà nước và là cơ
sở kinh tế của Nhà nước.
b. Khái niệm về thuế.
Tuỳ theo các giác độ nghiên cứu khác nhau về thuế mà có các khái niệm
khác nhau:
Đứng trên giác độ pháp luật, thuế được định nghĩa là khoản đóng góp theo
quy định của pháp luật mà các tổ chức, doanh nhân phải nộp vào Ngân Sách Nhà
nước.
Đứng trên giác độ phân phối: Thuế được hiểu là quá trình phân phối lại tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên quỹ tiền tệ tập thung lớn
nhất.