84
Chương IV
THC HÀNH VI TR EM VÀ V THÀNH NIÊN2
Tr em là người dưới 16 tuổi theo quy định ca Pháp lut Vit Nam hoặc i 18
tuổi theo Công Ước Quc tế v quyn tr em.
Phát triển quá trình thay đổi tính h thng ca nhân do s hc mang li
đó trẻ dn dn làm ch các năng vận động, duy, tình cảm, cm xúc, hi
trong môi trường sng theo mức độ phc tạp tăng dần.
I. Các vấn đề pháp luật bảo hộ quyền trẻ em
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCSGD) trem vấn đề tính chiến lược và
mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia. Việt Nam đã phê chuẩn các công ước về quyền trẻ
em cũng như ban hành cách cơ sở pháp lý bảo hộ các chính sách về trẻ em như luật bảo vệ,
chăm sóc giáo dục trem, các nghị định 36/2005/NĐ-CP. Nhân viên công tác hội
cần hiểu các luật lệ, ngun tắc BVCSGD trẻ em VTN (vị thành niên) để điều phối,
tìm kiếm các nguồn lực đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ VTN.
▪ Nguyên tắc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Những quan niệm truyền thống về trẻ em VTN Việt Nam như “trẻ em không
biết gì”, “trẻ em phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn” thể ảnh hưởng đến niềm tin, nhận
thức của người hành nghchăm sóc SKTT với trvị thành niên. Việc đặc biệt phải lưu ý
và ý thức đến những nguyên tắc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là rất quan trọng.
- Không phân biệt đối xvới trẻ em: Điều 4, Luật BVCSGD trẻ em quy định “Trẻ
em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con đẻ, con nuôi, con chung; không phân
biệt dân tộc, tín ngưỡng, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám
hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của Pháp
luật”
- Tôn trọng và thực hiện các quyền của trẻ em: Khoản 1, Điều 6 Luật BVCSGD trẻ
em quy định “Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng thực hiện”. Các quyền của trẻ
em bao gồm quyền được khai sinh quốc tịch, quyền được chăm sóc nuôi dưỡng,
quyền sống chung với cha mẹ, quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng và danh dự, quyền
được chăm sóc sức khỏe, quyền được học tập, quyền được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể
2 Trên lý thuyết và trong các văn bản lut Vit Nam, t “trẻ em” đã bao hàm cả độ tui v thành niên. Tuy
nhiên, hin nay, trong nhiu tài liu v tâm lý hc, công tác xã hội v.v có xu hướng s dng thut ng “trẻ em
và v thành niên” đ ch thi kì tr em t 0-18 tui, nhn mnh đến giai đoạn v thành niên như một giai đoạn
phát triển đặc bit. Trong tiếng Anh, Trong chương này, vì muốn nhn mạnh đến vic thc hành vi cá tr
nh (0-10 tui) và tr v thành niên (10-18 tuôi), nên chúng tôi cũng s dng thut ng “trẻ em và v thành
niên”.
85
thao, quyền được phát triển năng khiếu, quyền có tài sản, quyền được thông tin, y tỏ ý
kiến, hoạt động xã hội.
Áp dụng nguyên tắc này, bất cứ công việc nào liên quan đến trẻ, kể cả VTN như
đánh giá lâm sàng, can thiệp nhân, phải được sự đồng ý của chính trẻ người giám hộ
hợp pháp của trẻ (như cha mẹ).
- Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em trách nhiệm của toàn xã hội: Do trẻ em
chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, chưanăng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa
đủ điều kiện để tự quyết định quyền của mình và đòi hỏi gia đình, Nhà nước và xã hội phải
có sự bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, tạo cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện quyền trẻ em.
- Dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em: “Trong mọi hoạt động của quan, tổ chức, gia
đình, nhân liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu”
(Khoản 1, Điều 5, Luật BVCSGD trẻ em).
II. Những lưu ý về sự phát triển tâm lý – xã hội ở tuổi vị thành niên
Tr v thành niên là nhng ngưi đ tui t 10 đến 18 tui theo Pháp lut Vit Nam.
Tui v thành niên là giai đoạn chuyn tiếp ca s tăng trưởng và phát trin t cui
tui tr nh đến bt đầu tuổi trưởng thành, t 10 đến 18 tui, thuộc đối tượng phm vi
điều chnh ca Lut tr em.
Trẻ em 3mọi nơi, thuộc dân tộc nào cũng phải đi qua các thời hoặc các giai
đoạn trên con đường trở thành người lớn. Với hầu hết mọi người, bốn giai đoạn phát
triển chủ yếu: tuổi ẵm ngữa (từ sinh đến 2 tuổi), tuổi ấu thơ (3-6 tuổi, tương đương
với lớp mẫu giáo), tuổi ấu thơ lớn (từ 6 đến 10 tuổi, tương đương với lớp tiểu học) tuổi
vị thành niên (từ 10 đến 18 tuổi, thiếu niên tương đương với lớp THCS THPT). Những
người 18 tuổi trở lên được nhìn nhận như người trưởng thành.
Tuổi VTN khoảng thời gian trẻ trải qua chấm dứt thời trẻ em chuẩn bị trở
thành người lớn. Những thay đổi lớn về mặt cơ thể, tâm trí, tình cảm, xã hội diễn ra: trẻ bắt
đầu phải quản lý, chịu trách nhiệm với cuộc sống của mình hơn hoàn toàn dưới sự kiểm
soát của cha mẹ như thời trẻ em, trẻ sự trưởng thành về mặt tính dục phải đương
đầu với những thách thức dữ dội về tính dục và sinh sản. Không có thời chuyển tiếp nào
trong cuộc đời quan trọng hơn thời VTN. Nhân viên công tác hội hiểu rằng mỗi người-
nhân, cộng đồng, xã hội như một tổng thể, đều gặt hái thành quả từ việc đầu vào trợ
giúp thế hệ trẻ đạt được SKTT sức khỏe thể chất tối ưu. Nhân viên công c hội
thường cung cấp các dịch vụ bản trong các môi trường, cộng đồng, hệ thống xã hội
3 T đây, t “tr” đ ch các cá nhân t 0 đến 18 tui, bao gm c tr v thành niên
86
ảnh hưởng đến cuộc sống của VTN. Đđáp ứng được các nhu cầu của VTN, nhân viên
công tác hội luôn phải lưu ý đến những đặc điểm phát triển tâm lý, hội tuổi VTN.
Trên thực tế, Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Hoa (National Association of Social
Workers- NASW) đã ban hành Tiêu chuẩn thực hành công tác hội với trẻ vị thành niên
(2003) mà trong đó tiêu chuẩn 1 là nhân viên công tác xã hội phải có kiến thức và hiểu biết
đầy đủ về sự phát triển ở tuổi VTN.
Sự phát triển nổi bật của vị thành niên ở các khía cạnh:
Hình 3: Các khía cạnh phát triển nổi bật ở tuổi VTN
Trong thi v thành niên, tr VTN phát triển các năng lực để:
Hiu các ý ng trừu ợng, như các khái niệm toán hc mức độ cao phát
trin các triết lý đạo đức bao gm quyền, nghĩa vụ, các ưu tiên.
Thiết lp duy trì các mi quan h lãng mn thông qua hc cách chia s s thân
thiết, riêng tư mà không cảm thy lo lng hoặc gượng go, ép buc.
ớng đến hiu giá tr ý nghĩa thực s v bn thân mình các mc tiêu ca
bn thân.
Xây dng bn sắc cá nhân, độc lp vi cha m.
1. Hành vi
Sự thay đổi thể chất nhanh chóng và đột ngột mà trẻ VTN trải qua khiến các em trở
n ý thức về bản thân, e dè, nhạy cảm lo lắng về sự thay đổi thể mình. Các em
thường so sánh bản thân với các bạn đồng tuổi.
Vì sự thay đổi thể chất không diễn ra êm ả, đều đặn, vị thành niên thường cảm thấy
bản thân nh quặc, kể cả về hình dáng và phối hợp thể chất. Trẻ VTN nữ thể lo sợ
87
về kinh nguyệt, về việc vệ sinh thân thể. Trẻ VTN nam thể lo lắng về hiện tượng mộng
tinh.
thời y, việc các em bắt đầu tách khỏi cha mẹ thiết lập bản sắc cá nhân
bình thường. Trong nhiều trường hợp, việc độc lập hóa này không kèm theo các biểu hiện
khủng hoảng và khó khăn với gia đình, người thân, cô giáo. Tuy vậy, rất nhiều trường hợp,
sự “nổi dậy” trẻ VTN thể dẫn đến các xung đột bố mẹ vẫn muốn kiếm soát, điều
khiển con cái.
trẻ VTN dần tách khỏi cha mẹ để tìm khẳng định bản sắc riêng, sự độc lập
của bản thân mình, bạn bè đồng trang lứa lại trở nên quan trọng hơn.
Nhóm bn th là nơi trú n an toàn ca tr VTN. đó, tr VTN có th th các
ý tưởng mi.
đầu v thành niên, các nhóm bạn thường không các quan h lãng mãn,
thường mang tính cht là hi, nhóm. Các thành viên của nhóm thường hành động ging
nhau, ăn mặc ging nhau, nhng mt hoc nghi thc ca nhóm các thành viên
cùng tham gia chung vào các hoạt động.
Khi bước vào gia hoc cui v thành niên (14-18 tui), các nhóm bn có th bao
gm các mi quan h lãng mạn, yêu đương.
thời giữa (14-16 tuổi) đến cuối vị thành niên (16-18 tuổi), các em thường cảm
thấy nhu cầu định hình bản sắc giới nh bằng các trải nghiệm thử-sai để m được hình
thức thỏa mãn nhất về ngoại hình, cơ thể và các cảm xúc tính dục. Thông qua các mối quan
hệ lãng mạn, hẹn hò, trải nghiệm, các em học được cách biểu hiện đón nhận các cử chỉ,
giao cảm thân mật giữa nam nữ. Những bạn không hội trải nghiệm những điều
này tuổi vị thành niên thể sẽ gặp khó khăn trong các quan hệ thân mật khi trưởng
thành.
2. An toàn
Một vấn đề thường đặt ra ở tuổi vị thành niên là an toàn. Các em trở nên mạnh hơn
về thể chất, mong muốn độc lập hơn trước nhưng các em vẫn chưa đủ năng kiến
thức như người lớn để có những quyết định đúng đắn. Với nhu cầu khẳng định bản thân,
các em rất dễ thực hiện những hành động nguy hiểm. Đôi khi, chỉ để được sự nhìn nhận,
công nhận của nhóm bạn, các em thể thực hiện các “k tích”, “ngón nghề” nguy hiểm
hoặc tham gia vào các hành vi có nguy cơ.
An toàn giao thông, xe máy, nguy sử dụng các chất kích thích nên được lưu ý.
Các em không nên được trao quyền sử dụng ô hoặc xe y, chỉ trừ khi các em thể
chứng minh mình sử dụng các phương tiện đó một cách an toàn.
88
Nếu vị thành niên vẻ lập với nhóm bạn, không hứng thú với các việc trường
lớp hoặc hoạt động xã hội, hoặc học, làm các công việc không tốt, các em này cần được
đánh giá tâm lý.
Nhiều vị thành niên cũng nguy cao về trầm cảm hoặc tự tử, hoặc tự hủy hoại
bản thân bởi các áp lực hoặc xung đột trong gia đình, trường lớp, hội, nhóm bạn hoặc
trong các quan hệ thân mật.
3. Giáo dục giới tính
Vị thành niên luôn cần sự riêng để hiểu về c thay đổi diễn ra thể nh.
Một cách lý tưởng, trẻ VTN cần những không gian riêng tư. Trêu chọc vị thành niên về các
thay đổi về thể chất không phù hợp. Người lớn cũng cần nhớ rằng việc các em quan tâm
đến những thay đổi thể chủ đề về tính dục, tình dục tự nhiên bình thường v
phát triển. Trẻ VTN cũng sẽ thử nghiệm, hoặc cân nhắc rất nhiều các loại hành vi, định
hướng, biểu hiện mang tính tính dục trước khi m thấy bản sắc giới tính phù hợp với bản
thân mình. Người lớn nên cẩn trọng, không nên gọi các hành vi đó “sai trái”, “kì quặc”,
“hư hỏng”, v.v.
4. Độc lập và đấu tranh quyền lực
Đòi hỏi được độc lp ca các em thiếu niên là s phát triển bình thường. Người ln
không nên coi đó s ph nhn hoc mất đi quyền lc đối vi tr VTN. Người ln cn
cương quyết nhất quán. Người ln cần đóng vai trò như chỗ da vng chc cho các ý
ng ca tr VTN nhưng không thng tr, ln át bn sắc đc lập đang hình thành tr
VTN.
Mặc trẻ VTN luôn xu hướng thách thức, “thử sức” người lớn - những người
nắm quyền, các em vẫn cần hoặc muốn các giới hạn, như một khuôn khổ, biên giới an
toàn cho trVTN phát triển hành động. Đặt ra các giới hạn nghĩa các nguyên
tắc và luật lệ về hành vi đã được thống nhất giữa cha mẹ và trẻ VTN.
Đấu tranh quyền lực xuất hiện khi người lớn thường cảm thấy bị mất quyền lực,
nên càng áp đặt hoặc cho rằng người lớn “luôn đúng”. Tình trạng này nên tránh. Một trong
hai bên (thường các em) sẽ bị thua, dẫn đến trẻ VTN sẽ cảm thấy “mất mặt”. Điều
này sẽ dẫn đến trẻ VTN cảm thấy ngượng, hoặc không thỏa đáng, phẫn uất, bực bội
chống đối.
Các tranh luận sẽ luôn diễn ra khi các em nói chuyện với người lớn các em sẽ
liên tục “thách thức” người lớn. Tạo điều kiện để giao tiếp cởi mở, ràng, các giới hạn và
kỷ luật có thể thương thảo được có thể giúp giảm bớt các xung đột nghiêm trọng.
III. Nhu cầu đặc trưng của tuổi vị thành niên