
37
BÀI 2. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ VÀ
HỖ TRỢ TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ
I. Đặc điểm tâm sinh lý trẻ rối loạn phổ tự kỉ:
Điểm cần lưu ý
Có 5 lý thuyết tâm lý quan trọng về tự kỉ và Hội chứng Asperger
• Thuyết suy giảm chức năng thực hiện
• Thuyết suy giảm về khả năng kết nối trung tâm
• Thuyết mù trí
• Thuyết hệ thống hoá cảm xúc (và được mở rộng là thuyết não bộ cực
dương)
• Thuyết phân hóa thần kinh (Magnocellular)
Các lý thuyết tâm lý học giải thích tất cả các đặc điểm của tự kỉ trong mọi cá
nhân thuộc phổ tự kỉ chứ không chỉ với một vài đặc điểm. Cuối cùng thì họ
cũng cần hoà nhập với các lý thuyết thần kinh học.
Năm lý thuyết quan trọng được đặt ra theo hướng để nhận biết hành vi và
đặc điểm tâm lý của những người có Hội chứng Asperger và tự kỉ. Trong phần
này, chúng tôi xem xét các bằng chứng đối với mỗi thuyết, trước khi thực hiện
một so sánh về biểu hiện điển hình của mỗi thuyết được liệt kê trong toàn bộ các
đặc điểm của tự kỉ.
1. Thuyết suy giảm chức năng thực hiện:
Chức năng thực hiện được xác định là khả năng kiểm soát hoạt động. Các
hoạt động có thể “vận hành” (như các chuyển động) sự chú ý và thậm chí là
những suy nghĩ. Hoạt động kiểm soát bao gồm lên kế hoạch, thực hiện kế hoạch,
duy trì chủ đề và chú ý luân phiên khi được yêu cầu. Theo lý thuyết này này, đặc
điểm mấu chốt của người thuộc phổ tự kỉ được giải thích rõ nhất bằng việc thiếu
khả năng lên kế hoạch cho hoạt động (thực hiện kiểm soát) và chú ý luân phiên.
Suy giảm chức năng thực hiện là đặc điểm của những bệnh nhân bị tổn
thương ở vỏ não trước. Điều này có nghĩa là trong khi ở tự kỉ chưa từng có các
tổn thương nghiêm trọng với vùng não trước thì sự phát triển của não trước đã
không phát triển theo đúng cách thông thường.
Theo như lý thuyết này, điều này có thể giải thích cho hành vi dập khuôn
ở tự kỉ vì nếu bạn không thể lập kế hoạch cho hành động hoặc chú ý luân phiên
thì hành vi của bạn sẽ bị “đi vào” đường mòn, không thể chuyển dịch một cách
linh hoạt sang một kế hoạch mới hay một phần mới. Theo lý thuyết này, bạn sẽ
được dự trù trước là lặp lại hoặc tiếp diễn duy trì.

38
Bằng chứng về lý thuyết này rất hạn chế. Có một số báo cáo về những
người bị tự kỉ, những người cần có nhiều thời gian hơn với bảng trắc nghiệm
xếp tháp London (ảnh 1.1) trong đó bạn phải dời chuyển các miếng gỗ từ vị trí
bắt đầu thành hình theo mẫu với số lần dịch chuyển ít nhất. Tuy nhiên, lại có
những báo cáo khác về những người mắc Hội chứng Asperger là những người
có thể thực hiện được trắc nghiệm này một cách hoàn hảo. Có thể cho rằng điều
này không thể giải thích ở tất cả mọi người thuộc phổ tự kỉ. Thêm vào đó, có rất
nhiều nhóm bệnh nhân đã không thể thực hiện được trắc nghiệm này, nó quá
khó không chỉ đối với những người thuộc phổ tự kỉ.
Hình 1.1. Trắc nghiệm suy giảm chức năng thực hiện Tower of London.
Chuyển các khối tròn giữa các cột với số lần di chuyển ít nhất (Tối thiểu là 5 lần
chuyển để được kết quả như hình)
Lý thuyết suy giảm chức năng thực hiện cũng đã được thử nghiệm với
ngôn ngữ lưu loát, ví dụ yêu cầu một người nói rất nhiều từ bắt đầu với một chữ
cái cho trước (ví dụ chữ S) trong vòng 1 phút. Người thuộc phổ tự kỉ hoặc Hội
chứng Asperger nhìn chung thực hiện không tốt với việc này, có thể là do việc
tổ chức trí nhớ của họ theo một cách mà họ quan tâm hơn là với việc nhớ danh
sách các chữ cái.
Những bình luận xa hơn về lý thuyết này đó là sự quan tâm hạn chế hay
“nỗi ám ảnh” bị lạm dụng gây ra sự thiếu khả năng chú ý luân phiên đối với các
chủ đề mới, dẫn đến một số chức năng suy giảm theo xu hướng đi vào đường
mòn. Lý thuyết này được hiểu theo cách thông thường thì nó bỏ qua nội dung
của mối quan tâm hạn chế, nhìn nhận nỗi ám ảnh như là sự ngẫu nhiên.
Ngược lại, lý thuyết hệ thống hoá mức độ cao (được mô tả dưới đây) nhìn

39
nhận mối quan tâm hạn chế không phải là kết quả của một phần bệnh lý mà là
kết quả của sự lún sâu đáng kể của cả quá trình, xu hướng sẽ lún sâu hơn vào
các chi tiết của một chủ đề so với những bộ não bình thường. Nó cũng xem xét
nội dung của các mối quan tâm hạn chế một cách bình thường, nhưng diễn tả
một cách đặc biệt thành các thông tin có thể hệ thống hoá. Kết quả đó là sự phát
triển của các lĩnh vực chuyên môn.
Tuy nhiên, lý thuyết suy giảm chức năng thực hiện có một số thế mạnh.
Nó bắt nhịp tốt với khó khăn mà một số người tự kỉ mắc phải trong việc chú ý
luân phiên. Thuật ngữ suy giảm chức năng thực hiện có thể cần phải xem xét lại
để chỉ rõ rằng người tự kỉ hoặc Hội chứng Asperger là những người có khả
năng đặc biệt trong việc kiềm chế đối với tất cả những kích thích khác ngoài
phạm vi vùng chú ý hạn hẹp của họ.
2. Lý thuyết hạn chế khả năng liên kết trung tâm
Theo như lý thuyết thứ hai, người thuộc phổ tự kỉ có các vấn đề trong việc
hội nhập thông tin để tạo lên sự liên kết hay một bức tranh tổng thể. Thay vào
đó, họ thường tập trung vào những chi tiết nhỏ và cụ thể. Vì vậy, khi người có
kiểu thần kinh điển hình có thế mạnh về liên kết trung tâm, thường chú ý vào
nguyên nhân chính hơn là 90 nguyên nhân nhỏ thì người tự kỉ, là người hạn chế
về liên kết trung tâm thường chú ý đến các chi tiết hơn là sự tổng thể.
Lý thuyết này rất hấp dẫn bởi vì nó đưa ra những giải thích cho những
vùng khác biệt về khả năng của người tự kỉ và người mắc Hội chứng Asperger:
sự chú ý hoàn hảo đến chi tiết, trí nhớ chi tiết, và các kỹ năng trong một chủ đề
giới hạn. Bằng chứng về sự hạn chế khả năng liên kết trung tâm lớn hơn bằng
chứng về lý thuyết suy giảm chức năng thực hiện.
Đầu tiên, những người thuộc phổ tự kỉ thường nhanh hơn ở bài kiểm tra
ghép hình dành cho trẻ em (Hình 1.2) hoặc cho người lớn (hình 1.3). Ở bài kiểm
tra này, yêu cầu bạn tìm ra hình mục tiêu nhanh nhất có thể, nó được dấu trong
một hình ảnh lớn hơn.

40
Hình 1.2. Kiểm tra ghép hình giành cho trẻ em: Hình tam giác ở đâu?
Hình 1.3.Kiểm tra ghép hình cho người lớn:Khối lập phương ở đâu?
Cũng trong bài kiểm tra Navon (Hình 1.4) người thuộc phổ tự kỉ thường
nói rằng họ nhìn thấy chữ H chứ không phải là chữ A, là do họ họ thích nhận
thức cục bộ hơn là hình ảnh tổng thể.

41
Hình 1.4. Bài kiểm tra Navon về nhận thức cục bộ: chứ cái mà bạn nhìn thấy là gì?
Ở ví dụ cuối cùng về kiểm tra cho lý thuyết này đó là các bài kiểm tra các
từ cùng chữ, trong đó người được kiểm tra phải đọc các câu có các từ giống nhau
(một từ có hai cách phát âm khác nhau, từ đúng phụ thuộc vào nội dung của câu
đó). Ví dụ: “Cô ấy có giọt nước trên mi mắt” và “Cô ấy có vết rách trên váy”.`
Theo một nghiên cứu mới nhất, người mắc tự kỉ hoặc Hội chứng Asperger thường
phát âm thiếu các từ khóa “tear”. Có lẽ điều này là do họ quá tập trung vào từng
từ đơn lẻ trong câu, nhưng lại không bị kích thích chú ý với nội dung lớn hơn (ý
nghĩa của toàn câu văn) mà trong đó có các từ này xuất hiện.
Lý thuyết này cho chúng ta thấy một thực tế đó là so với người không
thuộc phổ tự kỉ thì người thuộc phổ tự kỉ có sự tập trung quá lớn đối với các chi
tiết nhỏ hơn. Điều này cũng nhắc chúng ta nhớ rằng người mắc Tự kỉ hoặc Hội
chứng Asperger thay vì tập trung vào các đơn vị nhỏ của thông tin họ cần nhiều
thời gian hơn để hiểu một nội dung lớn hơn, một bức tranh lớn hơn
Tuy nhiên, một thiếu sót của lý thuyết này đó là nó hàm ý rằng người mắc
tự kỉ hoặc Hội chứng Asperger không thể nhìn nhận một cách tổng thể, điều đó
không đúng. Nếu bạn hỏi họ rằng họ có thể nhìn thầy chữ A lớn trong bài kiểm
tra Navon (hình 1.4) không thì đương nhiên là họ có nhìn thấy rất rõ. Lý thuyết
này sẽ thành công hơn nếu nó làm rõ được chính xác mức độ khó khăn nào thực
sự đã xảy ra khi tổng hợp thông tin. Rõ ràng nó không xảy ra tại mức độ cơ bản
của việc tổng hợp các đặc điểm hay việc chữ T sẽ bị nhìn thành chữ I và nét −.
Và đây cũng không được gọi là vấn đề về “sự liên kết”, nó cản trở họ nhìn nhận
sự vật đúng như nó có hơn là việc nhóm các đặc điểm. Có quan điểm nghi ngờ
rằng khó khăn trong việc tổng hợp xảy ra ở mức độ cao hơn.

