
ĐOÀN THẾ HIẾU
HÌNH HỌC VI PHÂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC HUẾ
Khi xuất bản sẽ thay bằng Tên Nhà xuất bản
Huế, tháng 05 năm 2017
Khi xuất bản sẽ bỏ mục này

Giáo trình này được biên soạn bởi Đoàn Thế Hiếu,
giảng viên Khoa Toán, Trường ĐHSP-Đại học Huế.
Giáo trình này được dùng để giảng dạy và học tập
học phần Hình học vi phân mã số: MAT04733.

ii

LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình này được biên soạn cho một khóa học 3 tín chỉ về Hình học vi phân
cổ điển của đường và mặt. Nội dung giáo trình chủ yếu trình bày lý thuyết địa
phương của đường và mặt và một vài kết quả toàn cục về đường dựa vào tài
liệu [do1], một tài liệu hay về Hình học vi phân cổ điển dành cho bậc Đại học.
Bên cạnh đó một số tài liệu khác về đường và mặt (xem phần tài liệu tham
khảo) cũng được tham khảo để chọn lựa một số bài tập. Khái niệm đường
được trình bày là đường tham số, có nghĩa là xem đường là biến dạng của
một đoạn thẳng (hoặc đường thẳng) trong mặt phẳng hoặc trong không gian
qua một ánh xạ, thường được giả thiết là khả vi đến cấp cần thiết. Khái niệm
mặt được trình bày trong giáo trình là mặt chính quy (đa tạp con hai chiều
của R3), hợp của một họ các tập mở của mặt vi phôi với các tập mở của R2.
Cách trình bày trừu tượng về mặt chính qui như thế sẽ có ích cho sinh viên
sau này khi tiếp cận với Hình học vi phân hiện đại để thực hiện các tiểu luận,
niên luận hoặc khóa luận tốt nghiệp. Mặc dù khái niệm mặt được trình bày
như là đa tạp con của R3,nhưng do hạn chế về thời gian, các chủ đề về mặt
được trình bày chủ yếu là tại địa phương, tức là chỉ xét tại từng lân cận tọa
độ ứng với một tham số hóa nào đó. Mỗi lân cận tọa độ có thể xem là các
“mặt tham số” khả vi không tự cắt. Cách trình bày hai khái niệm đường và
mặt theo hai cách khác nhau như thế nhằm làm cho sinh viên có cái nhìn theo
nhiều quan điểm khác nhau về các đối tượng hình học. Sinh viên có thể tự
định nghĩa khái niệm đường chính quy, mặt tham số và có thể hình dung, cho
dù là chưa rõ ràng, về khái niệm đa tạp con nhiều chiều của Rn.Sinh viên có
thể bước đầu nhận thấy lớp các đối tượng hình học, đường và mặt, được đưa
vào chương trình giảng dạy từng cấp học ở mức độ càng ngày càng tổng quát
hơn. Sinh viên cũng có thể hiểu được phần nào lý do ở bậc trung học, các khái
niệm đường và mặt, ngoại trừ các đường và mặt được cho bởi phương trình,
thường là đồ thị của một hàm số. Sinh viên cũng có thể nhận thấy rằng bài
toán khảo sát hàm số, một bài toán luôn có mặt trong các đề thi vào đại học,
về thực chất là một bài toán kinh điển của Hình học vi phân về đường tham
số cho một trường hợp đặc biệt, đường là đồ thị của một hàm số. Với công
iii

cụ là phép tính vi tích phân, đối tượng nghiên cứu được xét rộng hơn so với
các đối tượng nghiên cứu trong Hình học giải tích, Hình học Affine, Hình học
Euclid và Hình học xạ ảnh, nơi mà công cụ chủ yếu là Đại số tuyến tính.
Chương 1 được dành cho lý thuyết đường trong R2và R3.Lớp đường được xét
là lớp các đường tham số được đồng nhất với một tham số hóa của nó, hàm
vector một biến số. Lớp đường được xét là rộng hơn lớp các đường là đồ thị
của một hàm số. Một đường tham số có thể được xem như là biến dạng của
một đoạn thẳng hay toàn bộ đường thẳng trong R2hoặc R3qua một ánh xạ.
Các ánh xạ thường được giả thiết là đủ tốt (khả vi đến cấp cần thiết) để có
thể dùng công cụ giải tích trong nghiên cứu, khảo sát về chúng. Do đó, để tiện
cho việc trình bày, như theo cách viết của nhiều tài liệu về Hình học vi phân
cổ điển cho bậc đại học, các ánh xạ khả vi thường được xem là khả vi cấp vô
hạn, trừ các trường hợp cần thiết cần nói rõ cấp khả vi của đối tượng.
Thông qua hai bất biến hình học quan trọng là độ cong và độ xoắn, trường
mục tiêu và công thức Frenet được giới thiệu như là công cụ chủ đạo để nghiên
cứu lý thuyết địa phương của đường. Các định nghĩa và công thức tính toán
được trình bày cho đường với tham số là độ dài cung thì ngắn gọn nhưng sinh
viên sẽ gặp khó khăn về mặt thực hành khi giải các bài tập. Mục 2.4 xây dựng
các công thức tính toán cho đường với tham số không nhất thiết là độ dài cung
sẽ giúp giải quyết vấn đề đó.
Trong tiểu mục cuối cùng của chương này, ba vấn đề toàn cục về các đường
cong phẳng được đề cập: Bất đẳng thức đẳng chu, định lý về chỉ số quay và
định lý bốn đỉnh cho các đường cong đơn đóng. Bất đẳng thức đẳng chu và
định lý bốn đỉnh vẫn đang là chủ đề nghiên cứu thời sự trong các không gian
với cấu trúc khác không gian Euclid, không gian với mật độ là một ví dụ.
Không gian với mật độ đang là vấn đề thời sự được quan tâm nhiều hiện nay.
Các chủ đề này được đưa vào nhằm mục đích cho sinh viên tiếp cận với một
vài kết quả toàn cục và có hướng để thực hiện một số tiểu luận, niên luận và
khóa luận tốt nghiệp. Xa hơn nữa có thể là hướng để thực hiện luận văn cao
học hoặc luận án tiến sĩ nếu sinh viên có khả năng học ở cấp độ cao hơn.
iv

