intTypePromotion=3

Giáo trình Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non): Phần 1

Chia sẻ: Lê Thị Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:44

0
265
lượt xem
53
download

Giáo trình Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non): Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 1 Giáo trình Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non) gồm nội dung các chương: Chương 1-Mục đích, nhiệm vụ và các nguyên tắc giáo dục thể chất mầm non, chương 2-Nội dung giáo dục thể chất mầm non, chương 3-Các phương pháp giáo dục thể chất mầm non.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non): Phần 1

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh GIÁO TRÌNH PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non) Vinh 2011 1
  2. 2
  3. Lời nói đầu Giáo trình "Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non" nhằm trang bị cho sinh viên những vấn đề lý luận mang tính hệ thống và khái quát về mục đích, nhiệm vụ, các nguyên tắc giáo dục thể chất mầm non, đồng thời giới thiệu các phương pháp, phương tiện và hình thức giáo dục thể chất cho trẻ mầm non qua các độ tuổi: nhà trẻ, mẫu giáo. Giáo trình gồm 5 chương: Chương 1: Mục đích, nhiệm vụ và các nguyên tắc giáo dục thể chất mầm non Chương 2: Nội dung giáo dục thể chất mầm non Chương 3: Các phương pháp giáo dục thể chất mầm non Chương 4: Các hình thức và phương tiện giáo dục giáo dục thể chất mầm non Chương 5: Hướng dẫn một số nội dung và hình thức giáo dục thể chất mầm non qua các độ tuổi Cuốn "Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non" là giáo trình dùng cho sinh viên hệ đào tạo từ xa ở các trường Đại học sư phạm, ngành Giáo dục mầm non, đồng thời là cuốn sách cần cho những ai quan tâm tìm hiểu vấn đề giáo dục thể chất cho trẻ mầm non. Cuốn sách viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các độc giả để hoàn thiện thêm. Tác giả 3
  4. Chương I: MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC THỂ CHẤT MẦM NON 1. Mục đích của giáo dục thể chất (GDTC) mầm non 1.1. Cơ sở để xác định mục đích GDTC mầm non - Căn cứ vào mục tiêu của giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam, và mục đích của GDTC cho thế hệ trẻ trong giai đoạn phát triển tương ứng của đất nước. Ví dụ: Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản lần thứ VII đề ra mục tiêu của giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ và năng động sáng tạo. Dựa vào Nghị quyết nói trên, các văn bản của Nhà nước đã xác định mục đích của GDTC Việt Nam là đảm bảo sự phát triển toàn diện, cân đối cho con người, chuẩn bị sẵn sàng về mặt thể lực cho họ để tham gia tích cực vào sự nghiệp lao động sáng tạo xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN. - Căn cứ vào mục tiêu của GDMN. Trong Luật Giáo dục 2005 (điều 22) mục tiêu GDMN được xác định là "giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp Một". - Căn cứ vào đặc điểm phát triển của trẻ em các độ tuổi, đặc biệt là sự phát triển tâm lý, sinh lý- vận động. 1.2. Mục đích GDTC mầm non - Mục đích chung: giúp trẻ em khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà, cân đối. 4
  5. - Mục đích giáo dục phát triển thể chất cho trẻ em các độ tuổi từ 18 tháng đến 6 tuổi được cụ thể trong Chương trình Giáo dục mầm non (2006) cùng các dấu hiệu đánh giá một cách cụ thể: Ví dụ: - ở cuối độ tuổi nhà trẻ: + Mục đích giáo dục phát triển thể chất: * Cơ thể trẻ khoẻ mạnh, phát triển cân đối. Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A. *Trẻ thực hiện được các vận động cơ bản. *Trẻ thích nghi với chế độ sinh hoạt của nhà trẻ. *Trẻ có một số thói quen tự phục vụ trong ăn uống, vệ sinh cá nhân. + Dấu hiệu đánh giá: * Đi thẳng người, nhấc cao chân * Chạy theo hướng thẳng và đổi hướng không mất thăng bằng * Lên, xuống cầu tháng có vịn * Bật xa bằng 2 chân 20 cm * Ném xa 1,2 m * Xếp tháp 8 tầng * Xâu hạt thành chuỗi * Ghép hình 4 mảnh * Biết cài cúc, mặc quần - Ở cuối độ tuổi mẫu giáo: + Mục đích giáo dục phát triển thể chất * Cơ thể trẻ khoẻ mạnh, phát triển cân đối. Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A. * Trẻ thực hiện được các vận động cơ bản vững vàng, đúng tư thế. 5
  6. *Trẻ có khả năng phối hợp giữa giác quan và vận động, kết hợp vận động nhịp nhàng có định hướng trong không gian. *Trẻ thực hiện được các vận động tinh tế, khéo léo. *Trẻ có thói quen và một số kỹ năng tốt trong việc chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường và đảm bảo an toàn. + Các dấu hiệu đánh giá: * Đi giật lùi 3 m * Chạy 18 m khoảng 10 giây * Bật xa 50-60 cm * Ném xa 4 m * Bò chui dưới vật không bị chạm * Đi nối gót giật lùi 5 bước * Cắt được theo đường tròn * Đồ được hình * Thắt buộc giây giầy * Tự mặc quần áo. 2. Nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ mầm non 2.1. Nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ Cơ thể của trẻ mầm non có sự tăng trưởng nhanh về hình thái nhưng các hệ cơ quan làm việc chưa hoàn thiện, sự phát triển chức năng bảo vệ cơ thể còn yếu. Khi chịu đựng nhiều tác động không thuận lợi của môi trường trẻ dễ mắc nhiều bệnh khác nhau. Vì vậy, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể lực, hoàn thiện chức năng làm việc của các cơ quan, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của GDTC mầm non. Nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ có thể tiến hành theo 3 hướng sau đây: - Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng - Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý. 6
  7. - Hoàn thiện chức năng của các cơ quan thực vật. a) Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng cho trẻ mầm non Tuổi mầm non là giai đoạn có những biến đổi hết sức to lớn về hình thái và chức năng của cơ thể. Đặc điểm của thời kỳ này là lúc đầu cơ thể trẻ có sức chống đỡ (đề kháng) tương đối thấp đối với những tác động xấu của môi trường xung quanh, do đó dễ mắc bệnh, nhưng khả năng thích ứng, thích nghi với mọi tác động từ bên ngoài vào sẽ nhanh chóng nâng cao nếu biết giữ gìn sức khoẻ cho trẻ thật chu đáo, kết hợp với việc rèn luyện thể dục một cách có hệ thống và đúng phương pháp khoa học, phát triển vận động, rèn luyện kỹ năng vận động và thói quen giữ vệ sinh cho trẻ, kết hợp sử dụng tác động của các yếu tố thiên nhiên một cách thận trọng và có liều lượng. Các biện pháp đó có tác dụng phòng và chống được các bệnh thông thường như cảm cúm, các bệnh truyền nhiễm cho trẻ và còn là sự rèn luyện có tác dụng tốt đối với hệ thống thần kinh trung ương, đối với sức khoẻ nói chung của trẻ. b) Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý ở lứa tuổi mầm non quá trình cốt hoá của hệ xương mới chỉ bắt đầu. Bộ xương của trẻ phần lớn được cấu tạo bằng các tổ chức sụn, các tổ chức xương đang được hình thành, độ rắn thấp, độ xốp cao chứa nhiều nước vì thế. Hệ cơ còn tương đối yếu, dây chằng dễ bị kéo dãn. Vì thế cơ quan vận động chưa được vững chắc, dễ bị biến dạng, tư thế vận động cơ bản dễ bị sai lệch. Đến 6-7 tuổi thì thành của xương mới có độ dày đảm bảo sự chống đỡ tương đối với những tác động cơ học. Vận động tích cực có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của hệ cơ, xương, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các xương ống theo chiều dài đồng thời tăng độ vững chắc của xương nhờ độ đông đặc chung của các tổ chức xương ở trẻ em mẫu giáo. Hệ xương: hình dáng của cơ thể phụ thuộc vào bộ xương. Bộ xương có nhiệm vụ bảo vệ tuỷ sống, não, các cơ quan bên trong của cơ thể khỏi bị va chạm 7
  8. và làm hư hại. Bộ xương của trẻ còn rất yếu, mềm, dễ bị biến dạng, vì trong đó còn chứa nhiều tố chất sụn, các khớp của trẻ rất linh hoạt, dây chằng dễ bị dãn, các gân còn yếu và ngắn so với người lớn. Phát triển hệ xương, dây chằng và khớp đúng lúc sẽ có tác dụng đến việc phát triển các cơ quan, các hệ thống và tư thế của cơ thể. Những trường hợp bị cong, vẹo cột sống, vai uốn tròn, lòng bàn chân bẹt làm rối loạn điều kiện làm việc của nhiều cơ quan quan trọng và có thể dẫn đến bệnh lý. Đối với trẻ mẫu giáo cần đặc biệt chú ý cho sự cốt hoá của xương diễn ra đúng đắn và đúng lúc, hình thành đường cong sinh lý của cột sống, phát triển vòm bàn chân, củng cố dây chằng, khớp, ngoài ra cần chú ý đến sự phát triển cân đối giữa các phần của cơ thể, sự phát triển cân đối chiều cao và trọng lượng của xương. Hệ cơ: Bám chắc vào các phần riêng biệt của bộ xương, ở trong một tư thế nhất định giữ cho thăng bằng và thay đổi tư thế đó. Điều này có nghĩa là hệ cơ tham gia thực hiện chức năng vận động và cũng như thực hiện chức năng bảo vệ: bảo vệ khỏi sự va chạm, sự nhiễm lạnh của bộ xương và các cơ quan bên trong. Cơ của trẻ phát triển còn yếu và chỉ bằng 20-25% trọng lượng cơ thể. ở trong cơ thể trẻ có nhiều nước và ít chất Prôtít, Lipít. Sự phát triển của các nhóm cơ riêng biệt xảy ra không cùng một lúc liên quan tới những điều kiện trên, cần thiết phải củng cố tất cả các nhóm cơ đặc biệt là cơ duỗi. c) Nâng cao khả năng làm việc của các hệ thống cơ quan trong cơ thể trẻ Đặc điểm của giai đoạn từ 0-6 tuổi là sự hoạt động vận động tích cực của trẻ, nhờ đó những động tác vận động cơ bản cần thiết cho cuộc sống được hình thành. Tập luyện thể dục thể thao sẽ đẩy nhanh chóng quá trình chuyển những động tác tự nhiên, tản mạn trong những tháng đầu tiên của cuộc sống, thành những động tác có sự phối hợp tương đối cao như đi, chạy, nhảy, ném…qua đó phát triển khả năng vận động một cách hiệu quả ở trẻ. Mặt khác, vận động là một trong những điều kiện cơ bản để trẻ nhận thức thế giới xung quanh. Qua sự theo dõi những trẻ em vì lý do nào đó (như bị ốm) mà hoạt động vận động bị hạn chế cho thấy: hiện 8
  9. tượng thiếu vận động đã gây nên sự phát triển chậm chạp của các hệ thống tim mạch, hô hấp và các hệ thống khác của cơ thể trẻ. Dưới ảnh hưởng của các hoạt động và vận động tích cực thì trọng lượng tương đối của tim, phổi, não được tăng lên. Đặc biệt là vận động thường xuyên sẽ kích thích mạnh mẽ sự trao đổi chất, cải thiện được quá trình trao đổi chất và thúc đẩy sự hoàn thiện về cấu trúc và chức phận của cơ thể. Hệ hô hấp: Đối với trẻ các đường hô hấp còn hẹp, niêm mạc của chúng có nhiều mạch máu. Các tế bào của phổi rất mịn. Độ linh hoạt của lồng ngực bị hạn chế, xương sườn ở tư thế nằm ngang và sự phát triển của cơ hô hấp thì rất yếu, nên không thể thở sâu được (trẻ ở lứa tuổi bú mẹ thở 40-35 lần /1 phút, 7 tuổi thì 24-22 lần). Vì thế không khí bị đọng lại và khó vào các phần của lá phổi. Nhịp hô hấp của trẻ không ổn định, dễ bị rối loạn. Từ cần củng cố cơ hô hấp, phát triển độ linh hoạt của lồng ngực, tạo khả năng thở sâu tiết kiệm năng lượng khi thở ra, ổn định nhịp thở, tăng dung tích sống. Ngoài ra phải dạy trẻ thở bằng mũi. Thở bằng mũi sẽ làm không khí được ấm lên và lọc sạch. Các bài tập phát triển hô hấp sẽ thúc đẩy sự hoạt động tích cực của các cơ quan hô hấp, củng cố các cơ hô hấp và sự phát triển toàn bộ của bộ máy hô hấp, ngoài ra có tác dụng hình thành ở trẻ em thói quen thở đều và sâu, khắc phục được tật nín thở của trẻ khi thực hiện những động tác mới. Hệ tim mạch: Ngay từ khi mới sinh hệ tim mạch đã hoạt động mạnh, các mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn, áp lực của máu yếu nhưng tần số co bóp của tim lại tăng lên, vì thế nhịp điệu co bóp của tim dễ bị rối loạn. Tim nhanh chóng mệt mỏi nếu phải làm việc căng thẳng và không thể ngay lập tức thích ứng với sự thay đổi hoạt động đột ngột. Nhịp mạch của trẻ nhỏ đập rất nhanh (120-140 lần/1 phút). Dần dần thì mạch đập chậm lại, và khi 5-6 tuổi thì nhịp đập từ 80- 110 lần/ 1 phút. 9
  10. Cần phải đặc biệt chú ý đến hệ tim mạch của trẻ mầm non, cụ thể củng cố các cơ tim, các thành mạch nhất là các mạch máu ở não, làm cho nhịp điệu co bóp của tim tốt hơn và phát triển khả năng thích ứng với sự thay đổi vận động đột ngột. Các cơ quan nội tạng: Đặc biệt đối với lứa tuổi nhỏ, các cơ quan nội tạng của trẻ phát triển chưa đầy đủ, dạ dày có những vách cơ yếu. Các lớp cơ và các sợi đàn hồi của thành ruột phát triển chưa đầy đủ. Vì vậy trẻ dễ bị rối loạn sự hoạt động của ruột. Từ đó phải củng cố các bắp thịt và các dây chằng của các cơ quan nội tạng. Da: có nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan và các tế bào nằm sâu bên trongkhỏi bị thương chấn, không để vi trùng thâm nhập vào, là cơ quan bài tiết cũng như tham gia vào sự bài tiết và điều hoà thân nhiệt và hô hấp. Da của trẻ mịn hơn da của người lớn, dễ bị chấn thương hơn và vì vậy cần bảo vệ da không bị hư hỏng. Hệ thần kinh: Từ lúc sơ sinh hệ thần kinh của trẻ chuẩn bị chưa đầy đủ để thực hiện các chức năng của mình. Hệ thần kinh thực vật được phát triển hơn. ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng. Sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế. Liên quan với những điều kiện nói trên, nhiệm vụ được đặt ra là tạo sự cân bằng giữa hưng phấn và ức chế, độ linh hoạt của chúng, phát triển ức chế tích cực cũng như hoàn thiện các cơ quan phân tích vận động, các cơ quan cảm giác (thị giác, thính giác…). Tóm lại ở lứa tuổi mầm non luyện tập thể dục thể thao có hệ thống và đúng phương pháp khoa học sẽ thúc đẩy sự trưởng thành cơ thể trẻ một cách mạnh mẽ. Các hệ thống bắp thịt, thần kinh, tuần hoàn máu, … được tập luyện tốt. Ngoài ra còn có tác dụng tốt đối với phát triển các kỹ năng như đi chạy, nhảy, leo, trèo mang vác…của trẻ. Đó là cơ sở chuẩn bị cho hoạt động chân tay và trí óc sau này của các em, bồi dưỡng giáo dục và phát triển thói quen hành động tập thể, tính tích cực, kỷ luật, chủ động sáng tạo và những hành vi đạo đức tốt. 2.2. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức (nhiệm vụ giáo dưỡng) 10
  11. a) Thực hiện các bài tập thể chất phù hợp với lứa tuổi nhằm giáo dục ở trẻ những tố chất vận động như: nhanh nhẹn, khéo léo, bền bỉ, dẻo dai… Ví dụ: - Với mục đích phát triển sức mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo thì phải tăng độ dài, độ cao của bước nhảy, tập ném xa. - Để phát triển sức bền: cho trẻ tập nhiều động tác chạy với cự ly dài nhưng không gây ra sự mệt mỏi quá sức. - Phát triển khả năng ước lượng cự ly băng mắt: dạy trẻ ném trúng đích, sự chính xác khi chân nhảy chạm đất, quan sát hướng tốt trong lúc đi. Nếu các tố chất thể lực không được phát triển thì trẻ không thể thực hiện được thậm chí các chi tiết nhỏ của các động tác, không hoàn thiện được các hình thức khác nhau của vận động. b) Hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động, những thói quen đúng về tư thế, các thói quen vệ sinh, nắm được một số kiến thức sơ đẳng về GDTC - Hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và thông qua đó trẻ nhận thức thế giới xung quanh, thực hiện các nhiệm vụ được giao một cách sáng tạo, cho phép trẻ tiết kiệm được nhiều sức hơn khi vận động, hoạt động. Nhờ vậy, tạo ra khả năng lặp lại các động tác với số lần nhiều hơn và ảnh hưởng tích cực hơn tới hệ tim mạch, hô hấp và việc phát triển các tố chất thể lực. Việc sử dụng những thói quen vận động đã được hình thành một cách bền vững cho phép thực hiện những nhiệm vụ xuất hiện trong những tình huống bất ngờ, trong hoạt động, vận động và trò chơi. Những thói quen vận động được hình thành trước 6 tuổi là cơ sở cho việc hoàn thiện tiếp tục khi bước sang tuổi học sinh và cho phép tiếp tục đạt thành tích cao trong các môn thể thao. - Rèn luyện thói quen tư thế đúng đắn- có nghĩa là trẻ biết giữ tư thế đúng đắn của cơ thể trong lúc ngồi, đi, đứng- một việc hết sức quan trọng đối với trẻ 11
  12. mầm non. Giáo dục tư thế đúng đắn có ý nghĩa to lớn đối với sự hoạt động bình thường của tất cả các cơ quan, hệ thống của cơ thể. - Trong lứa tuổi mầm non phát triển những thói quen ban đầu về vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh công cộng: rửa tay, lau sạch mũi, đại tiểu tiện trước khi bước vào tập luyện, giữ quần áo sạch sẽ, giữ dày cẩn thận, giữ gìn các đồ chơi luôn luôn sạch sẽ, giữ gìn các dụng cụ thể dục thể thao, nhà cửa… Các thói quen này được hình thành hay không phần nhiều phụ thuộc vào sức khoẻ của trẻ. - Đối với trẻ mẫu giáo cần phải truyền đạt một số hiểu biết có liên quan GDTC. Những kiến thức đã nhận được làm cho trẻ tập luyện một cách tự giác hơn và việc sử dụng các phương tiện GDTC ở các trường mầm non và ở gia đình được đầy đủ hơn. Làm cho trẻ hiểu được tác dụng của tập luyện. Về ý nghĩa của các động tác và các phương tiện khác của GDTC (các điều kiện vệ sinh, các yếu tố thiên nhiên, lao động chân tay) có được khái niệm tư thế đúng đắn, kỹ thuật động tác về luật lệ, trò chơi vận động cũng như sự hiểu biết về vệ sinh các nhân cũng như vệ sinh hoàn cảnh là rất quan trọng. Trẻ cần phải hiểu biết tên gọi của các bộ phận cơ thể, hướng của động tác (lên cao, hạ xuống, trước sau phải trái…) tên gọi và ý nghĩa của các dụng cụ thể dục thể thao, nguyên tắc đảm bảo và sử dụng các dụng cụ đó, điều lệ sử dụng quần áo, dày thể thao. Tất cả các hiểu biết nói trên cần phải phù hợp với lứa tuổi của trẻ. 2.3. Nhiệm vụ giáo dục a) Giáo dục lòng yêu thích thể dục thể thao, sự hứng thú, tự giác, độc lập luyện tập thường xuyên. b) Thực hiện việc giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và lao động: Việc thực hiện các động tác, bài tập vận động sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để giáo dục những đức tính tốt và các phẩm chất đạo đức (thật thà, công bằng, tinh thần tập thể, …và cũng như việc hình thành các phẩm chất ý chí (lòng dũng cảm, kiên định, sự kiền chế…) 12
  13. Cần phải giáo dục cho trẻ sử dụng một cách sáng tạo những sự hiểu biết, những thói đã hình thành trong hoạt động vận động, xuất hiện tính tích cực, tự giác nhanh trí… Đối với trẻ mẫu giáo thì việc giáo dục cảm xúc tốt, sự sảng khoái, tinh thần vui vẻ, cũng như biết vượt qua những trạng thái tâm lý tiêu cực là điều hết sức quan trọng. Điều đó rất cần thiết bởi vì những cảm xúc tốt sẽ ảnh hưởng một cách thuận lợi đến sự làm việc của tất cả các cơ quan, các hệ thống của cơ thể, đảm bảo hình thành một cách nhanh chóng các thói quen vận động. GDTC tạo ra sự thuận lợi cho việc giáo dục thẩm mỹ. Trong quá trình thực hiện động tác vận động khuyến khích sự phát triển khả năng tiếp thu cảm thụ hiểu biết và đánh giá cái đẹp một cách đúng đắn: cái đẹp của trang phục thể dục, của các dụng cụ tập luyện, của môi trường xung quanh, giáo dục trẻ thấy cái đẹp trong tư thế tác phong, trong phẩm chất đạo đức không nhân nhượng những hành động và lời nói thô lỗ. Trong quá trình GDTC có tiến hành giáo dục lao động. Chuẩn bị cho trẻ bước vào lao động có nghĩa là phát triển ở trẻ khả năng nhanh nhẹn bằng những thói quen vận động và giáo dục các tố chất thể lực cần thiết cho lao động. Ngoài ra trẻ phải nắm vững các thói quen vận động có liên quan tới các trang bị trong phòng tập, sân tập, (hố có cát để nhảy, dụng cụ tập luyện…) cùng với sự sửa chữa phương tiện thể dục thể thao, bảo vệ quần áo, dày dép thể thao, chuẩn bị địa điểm để tập luyện (quét sạch lá rụng, xới hố cát, đường chạy…), khoảng cách đặt các dụng cụ trên sân. Ngoài ra trẻ còn tiếp thu những thói quen vận động để trông nom, bảo quản dụng cụ luyện tập: Lau sạch bụi ở gióng thang, thu dọn cờ, nơ, gậy, vòng, ghế thể dục, bảng… 13
  14. Các nhiệm vụ nêu trên có liên quan mật thiết, chặt chẽ với nhau. Cần tổ chức quá trình GDTC cho trẻ mầm non sao cho trong cùng một lúc giải quyết có hiệu quả tất cả những nhiệm vụ đó. 3. Các nguyên tắc giáo dục thể chất cho trẻ mầm non 3.1. Nguyên tắc toàn diện và hệ thống Là nguyên tắc quan trọng trong GDTC. K.Đ.Usinxki (1949) đã viết "Chỉ có hệ thống mới giúp chúng ta hoàn toàn làm chủ được những kiến thức của chúng ta. Một bộ óc chứa đầy những kiến thức rời rạc, không liên quan đến nhau, cũng giống như một kho chứa đồ cũ, trong đó mọi thứ đều rất lộn xộn và ở đó chính bản thân chủ nhân cũng chẳng tìm thấy cái gì". Tính hệ thống được thể hiện trong sự liên tục, tuần tự và có tính kế hoạch của nội dung GDTC trong suốt lứa tuổi mầm non, trong sự tuần tự của các tiết học thể dục (hay vận động) với sự thay đổi liên hoàn giữa luyện tập và nghỉ ngơi, trong sự kế thừa, trong mối quan hệ qua lại của nội dung và tính tuần tự của các tiết học. Tính hệ thống còn thể hiện trong mối quan hệ và phụ thuộc lẫn nhau của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo: sự hình thành kỹ năng này cho phép đứa trẻ có cơ sở để lĩnh hội cái mới hơn và cứ như thế, đi từ cái mới này đến cái mới khác. Tính hệ thống thể hiện trong việc thực hiện một cách có hệ thống những bài tập thể chất trong ngày qua các hình thức GDTC khác nhau: thể dục sáng, tiết học thể dục, hoạt động vận động ngoài trời… cũng như việc dạy trẻ thực hiện chế độ giáo dục sức khoẻ trong ngày một cách thường xuyên. Khi ngừng thực hiện những tiết thể dục đã xây dựng theo hệ thống, hoặc thực hiện chúng không liên tục, nhận thấy sự giảm sút rõ rệt thành tích của các cơ quan chức năng, và đôi khi dẫn đến sự thoái lùi các chỉ số hình thái thể hiện ở sự giảm sút tỷ trọng (trọng lượng riêng) của các mô cơ tích cực, sự thay đổi thành phần cấu tạo của chúng và nhiều biểu hiện tiêu cực khác. 14
  15. GDTC đòi hỏi sự lặp lại những kỹ xảo vận động đã được hình thành. Chỉ trong điều kiện lặp lại nhiều lần mới hình thành được định hình động lực trong não bộ. Để tiến hành lặp lại một cách hiệu quả cần một hệ thống mà trong đó những cái cũ đã hình thành liên kết với những cái mới (khi quá trình lặp lại có tính chất tình huống: thay đổi bài tập, điều kiện thực hiện, sự khác nhau của những phương pháp và biện pháp, hình thức và nội dung tiết học một cách tổng thể). Bên cạnh đó, sự lặp lại cần đảm bảo sự cải tổ trật tự hình thái và chức năng trong quãng thời gian dài, trên cơ sở đó phát triển các tố chất thể lực (A. N. Crextovnhicop). Cơ thể con người là một khối thống nhất, đặc biệt cơ là cơ thể trẻ non nớt, đang thời kì lớn lên và hoàn thiện nếu không được phát triển toàn diện, cân đối thì qua giai đoạn này khó phát triển bình thường.Ví dụ: nếu trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, thì cơ thể không cân đối, còi cọc, trí óc không phát triển. Trong thể dục, mỗi bài tập chỉ có tác dụng nhất định đến sự phát triển của một số bộ phận cơ thể hoặc một số tố chất thể lực. Ví dụ: Động tác tay, vận động cơ bản ném xa có tác dụng phát triển cơ tay, phát triển cảm giác thăng bằng, rèn luyện tính chất khéo léo, mạnh mẽ. Động tác chân- bật: phát triển cơ chân, rèn luyện khả năng phối hợp tay, chân, tố chất mạnh mẽ…Vì vậy, cần lựa chọn những bài tập nhịp nhàng, cân đối giữa tay và chân, giữa cơ quan vận động và cơ quan nội tạng, giữa các tố chất thể lực…để giúp cho các cơ quan, các hệ thống trong cơ thể trẻ phát triển bình thường hoặc phát triển cục bộ một bộ phận nào đó. Tính hệ thống và liên tục phải được thực hiện trong kế hoạch giảng dạy toàn năm, từng học kỳ, từng tháng, từng bài tập, từng động tác sao cho toàn bộ nội dung khối lượng luyện tập thống nhất thành một khối có tác động thúc đẩy lẫn nhau, động tác này bổ sung cho động tác kia, bài học trước làm cơ sở cho bài học sau, bài sau bổ sung, củng cố và phát triển bài học trước. Ví dụ: dạy bò bằng bàn tay và cẳng chân, động tác tay, động tác chân hỗ trợ cho vận động bò. Bò theo hướng 15
  16. thẳng làm cơ sở để dạy bò dích dắc, bò chui qua cổng. Qua đó rèn luyện, củng cố kỹ năng bò cho trẻ. Vận dụng nguyên tắc này cần chú ý: + Khi chọn nội dung và hình thức tập luyện cần phải cân nhắc kĩ tác dụng và ảnh hưởng qua lại của chúng đến các bộ phận của cơ thể…Ví dụ: hướng dẫn bài tập GDTC phải có đầy đủ các động tác theo thứ tự: tay, chân, bụng, lườn, bật, phải có động tác hỗ trợ cho vận động cơ bản. Hoặc sau khi trẻ thực hiện động tác bật, không nên tổ chức cho trẻ chạy nhanh hoặc chạy chậm ngay, vì như thế trẻ sẻ bị mỏi chân. + Luyện tập toàn diện phải gắn liền với luyện tập có hệ thống thường xuyên liên tục. + Nội dung vận động phải được sắp xếp từ dễ đến khó, từ nhẹ đến nặng, từ đơn giản đến phức tạp. + Sắp xếp nội dung hợp lý. + Nâng dần cường độ vận động: Ví dụ: Nếu tiết bài mới yêu cầu trẻ phải thực hiện tối đa là 2 lần, thì ở tiết ôn luyện yêu cầu trẻ phải thực hiện từ 2,5 đến 3 lần. Từ 1 vận động cơ bản trong tiết học, sau đó tăng lên từ 2-3 vận động cơ bản. 3.2. Nguyên tắc tích cực và tự giác Nguyên tắc này dựa trên cơ sở quan hệ tự giác và tích cực của trẻ đối với hoạt động mà mình tiến hành: để đạt được thành tích khi thực hiện nhiệm vụ này hay nhiệm vụ khác thì trước hết trẻ phải hình dung rõ ràng: cần thực hiện cái gì và như thế nào, tại sao phải thực hiện như thế mà không phải khác (P.Ph.Lexgap là người đề ra nguyên tắc này). Nguyên tắc này được tiến hành theo các hướng cơ bản sau đây: - Hình thành hứng thú với nhiệm vụ vận động được giao 16
  17. - Kích thích sự quan sát vận động mẫu một cách có ý thức ở trẻ, sự phân tích có ý thức các bài tập vận động, hiểu được mục đích và phương pháp thực hiện nhiệm vụ. - Khuyến khích sự thể hiện tính tích cực, độc lập, sáng tạo ở trẻ khi thực hiện nhiệm vụ vận động: độc lập thay đổi bài tập, tạo ra những tình huống khác nhau, suy nghĩ về cái mới.. Dạy thể dục cho trẻ là làm cho trẻ nắm được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động. Đây là quá trình hoạt động nhận thức và thực hành cho trẻ. ý thức tự giác tích cực ở trẻ trong luyện tập có giá trị to lớn đối với kết quả bài tập. Muốn thực hiện tốt nguyên tắc tích cực, tự giác giáo viên cần phải: - Làm cho trẻ hiểu được nhiệm vụ bài tập một cách đơn giản và cụ thể. Trẻ càng bé thì nhiệm vụ được giao càng đơn giản. Ví dụ: con sẽ tung bóng bằng hai tay cho bạn, bạn sẽ bắt bóng và tung lại cho bạn khác. - Nội dung giảng dạy phải được lựa chọn vừa sức. - Phải làm cho các bài tập sinh động. Ví dụ: Phải tăng thêm đồ dùng dạy học. Khi bò chui qua cổng thì ở cổng có treo chuông để giúp trẻ tự đánh giá việc thực hiện hoạt động của mình đúng hay sai. - Giáo viên phải làm mẫu chính xác, đẹp, chậm vừa để trẻ dễ nhìn. - Giảng giải phải đầy đủ nhưng ngắn gọn dễ hiểu, sinh động có tác dụng gây hứng thú cho trẻ. - Chú ý động viên trẻ kịp thời. 3.3. Nguyên tắc trực quan kết hợp với lời nói và thực hành Dạy vận động là một quá trình nhận thức. Trong quá trình dạy vận động các thành tố của nhận thức có quan hệ khăng khít với nhau. Tuỳ theo nhiệm vụ đặt ra mà tuần tự của chúng có thể khác nhau: dạy trẻ có thể bắt đầu từ làm mẫu động tác kết hợp với giảng giải, giáo viên mô tả bằng lời và dùng cử động, vận động của mình để minh hoạ. Trong trường hợp này hay khác việc quan sát hình ảnh trực 17
  18. quan không loại trừ hoạt động tư duy, còn giải thích không loại trừ sự mô phỏng bằng những cử động, vận động.Tóm lại: trực quan, dùng lời và thực hành là những thành tố không tách rời nhau. Trực quan trong GDTC được hiểu là sự ảnh hưởng qua lại giữa các cơ quan phân tích cảm giác bên trong và bên ngoài cơ thể con người (trẻ). Bất kỳ nhận thức trực quan nào của con người cũng bắt đầu từ quan sát, nhìn ngó. Nhận thức cảm tính kết hợp với phân tích dần dần sẽ nâng sự hiểu biết từ cảm tính lên lý tính. Nhận thức trong GDTC cũng nằm trong quy luật đó. Trong giảng dạy thể dục, thói quen vận động chỉ có thể được hình thành trên cơ sở cảm giác trực tiếp với động tác, cho nên vấn đề trực quan trong giảng dạy thể dục có ý nghĩa cả với người dạy và người học. Tồn tại trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp trong GDTC mầm non. Giáo viên muốn làm cho trẻ nắm được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động một cách nhanh chóng, thì trong khi dạy cần tác động vào các loại cảm giác ở trẻ như thính giác, thị giác, xúc giác. Ví dụ: khi dạy một động tác trước hết giáo viên phải làm mẫu cho trẻ thấy, sau đó giáo viên chỉ dẫn cách làm, giải thích chỗ đúng, chỗ sai. Khi trẻ thực hành giáo viên quan sát, sửa sai trực tiếp cho trẻ (trực quan trực tiếp). Đối với những động tác, vận động khó mà việc làm mẫu không cho phép kéo dài thời gian để trẻ quan sát được kỹ (ví dụ: nhảy bật từ trên cao xuống), thì giáo viên có thể dùng hình vẽ mô tả để chỉ cho trẻ biết quá trình diễn biến của động tác, của vận động. ở mức độ cao hơn có thể dùng phim đèn chiếu, chiếu chậm cho trẻ xem để trẻ có hình dung chính xác về vận động, động tác (trực qua gián tiếp). Trong giảng dạy thể dục sử dụng trực quan và lời nói có ý nghĩa rất lớn nếu tính đến kinh nghiệm vận động và những hình thức vận động trong cuộc sống ở trẻ. Dần dần vai trò của lời nói cũng có ý nghĩa như quan sát (lưu ý khả năng tiếp thu 18
  19. và kinh nghiệm sống của trẻ). Khi sử dụng lời nói cần ngắn gọn, chính xác, rõ ràng, đúng lúc. 3.4. Nguyên tắc vừa sức và giáo dục cá biệt Nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét mối tương qua giữa khả năng của từng trẻ (năng lực thể chất cũng như tinh thần) và độ khó của nhiệm vụ vận động được giáo viên giao. Trong GDTC việc đảm bảo nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn vì: việc thực hiện các động tác vận động khác nhau có những tác động trực tiếp đến chức năng quan trọng của cơ thể.Thay đổi lượng vận động một cách đột ngột sẽ ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ, cho nên cần phải xem lại các đặc điểm, khả năng của từng trẻ để đưa ra nhiệm vụ cho phù hợp. - Vừa sức (dễ tiếp thu): Mặc dù trong Chương trình giáo dục mầm non đã có những yêu cầu chung cho trẻ theo từng độ tuổi, nhưng trong quá trình giảng dạy vẫn phải cần có yêu cầu cụ thể đối với từng trẻ và chuẩn bị cho trẻ thực hiện yêu cầu ngày càng cao hơn. Khả năng của từng trẻ được xác định bằng các phương pháp sau đây: + Đánh giá thể lực của trẻ theo tiêu chuẩn (Ví dụ: Yêu cầu tối đa đối với trẻ lớp nhỡ cuối năm phải đạt: Bé trai nặng14,4 kg, cao 100,7 cm) và lập biểu đồ sức khoẻ cho từng trẻ. + Kiểm tra y học. Theo dõi sức khoẻ hàng ngày, tuần, tháng. Nếu thấy có vấn đề như trẻ sút cân, biếng ăn… thì phải đưa trẻ đi khám ở bệnh viện. + Quan sát sư phạm trực tiếp: Cô giáo trực tiếp theo dõi, quan sát khả năng thực hiện bài tập, vận động của từng trẻ để đưa ra những bài tập phù hợp với khả năng cuả chúng. “Vừa sức" không có nghĩa là không có độ khó, mà là khả năng có thể vượt qua nếu biết động viên thể lực và tinh thần của trẻ. Để kiểm tra sự dễ tiếp thu được chính xác cần có sự kiểm tra y học và kiểm tra sư phạm một cách có hệ thống. Một 19
  20. trong những điều kiện cơ bản của tính vừa sức là sự liên tục và phức tạp dần của các động tác vận động. Vì vậy giáo viên phải biết sắp xếp nội dung các bài tập một cách hợp lý, buổi tập sau nặng hơn buổi tập trước. - Giáo dục cá biệt (tính đến đặc điểm cá nhân trẻ). Là sự cân nhắc những khả năng riêng biệt của từng trẻ trong quá trình giáo dục thể chất để lựa chọn các phương tiện, phương pháp và hình thức tổ chức tập luyện hợp lý. Trong GDTC cho trẻ mầm non tính đến đặc điểm cá nhân được giải quyết theo 2 hướng: cá biệt hoá theo xu hướng chung và con đường riêng. Cá biệt hoá theo xu hướng chung là chuẩn bị thể lực chung cho trẻ em các độ tuổi, lựa chọn những phương pháp, biện pháp giảng dạy, phương tiện và hình thức tổ chức hợp lý cho mỗi trẻ thực hiện bài tập vận động theo yêu cầu chung của chương trình hiện hành. Cá biệt hoá theo hướng chuyên biệt là: chuẩn bị thể lực một cách chuyên biệt cho những trẻ có năng khiếu (khả năng) về hoạt động thể dục thể thao (chủ yếu là áp dụng với trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo). 3.5. Nguyên tắc phát triển (nâng cao dần yêu cầu). Những điều kiện cơ bản của nguyên tắc này bao gồm việc thực hiện những nhiệm vụ mới, những vận động khó hơn, thay đổi hình thức vận động và nâng dần khối lượng vận động. Sự phức tạp hoá các hoạt động vận động, sự thay đổi các hình thức vận động luôn đi kèm với sự tăng lên về lượng vận động. Ví dụ: Thay đổi nội dung vận động: Lúc đầu hướng dẫn trẻ bò bằng bàn tay và cẳng chân theo hướng thẳng, sau đó tổ chức cho trẻ bò dích dắc qua các chướng ngại vật. Thay đổi hình thức vận động: + Thi xem ai bò nhanh mà không chạm vật + Thi tổ nào bò nhanh mà không chạm chướng ngại vật. Nâng dần khối lượng vận động: 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản