intTypePromotion=1

Giáo trình Tâm lý học sáng tạo

Chia sẻ: Loi K | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:315

0
219
lượt xem
48
download

Giáo trình Tâm lý học sáng tạo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản về bản chất của sáng tạo, cơ sở sinh học, xã hội của sáng tạo, mối quan hệ giữa sáng tạo với các hiện tượng tâm lý khác như trí thông minh, tư duy, tưởng tượng, động cơ. Những kiến thức về phương pháp nghiên cứu sáng tạo được trình bày trong giáo trình cũng rất cần thiết đối với những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và các nhà chuyên môn làm việc trong lĩnh vực tâm lý học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Tâm lý học sáng tạo

  1. GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC SÁNG TẠO GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC SÁNG TẠO Tác giả: PHẠM THÀNH NGHỊ LỜI GIỚI THIỆU Tâm lý học sáng tạo là lĩnh vực tri thức về  con đường con người tạo   dựng cái mới, có tính độc đáo và có giá trị trong các lĩnh vực hoạt động khác  nhau. Khó khăn lớn nhất của nghiên cứu trong tâm lý học sáng tạo là ở  chỗ  các phát minh, sáng chế liên quan đến thời khắc thấu hiểu, “loé sáng" được  nhiều nhà sáng tạo nhắc đến nhưng việc nghiên cứu hiện tượng vô thức,   tiềm thức bằng các phương pháp khách quan gặp nhiều khó khăn. Thời điểm  thấu hiểu, "loé sáng" mới đủ được các nhà sáng tạo kể lại thông qua tự quan   sát và trải nghiệm. Trong khi đó nhiệm vụ cải thiện khả năng tư duy sáng tạo  đã được nhiều nhà nghiên cứu nhắc tới. Giải quyết vấn đề  theo "lôgíc sáng   tạo" cũng có  thể  giúp tạo ra sản  phẩm mới   độc đáo (Phan Dũng, 2007).  Trong thực tế, quá trình sáng tạo vẫn hàm chứa nhiều điều bí  ẩn, bao gồm   cả  quy trình có tính lôgíc và quá trình mang tính trực giác. Làm thế  nào để  tăng cường năng lực sáng tạo của con người vẫn còn là câu hỏi mở chưa có   câu trả  lời thoả  đáng. Nhiều kết quả  nghiên cứu trong tâm lý học sáng tạo   phát hiện ra rằng các yếu tố bối cảnh bên ngoài và các yếu tố chủ quan bên  trong tác động tới việc tạo ra sản phẩm mới, độc đáo. Những tác động này là  phức tạp, phi tuyến tính. Việc tạo ra môi trường cởi mở, khuyến khích mạo  hiểm, thay đổi cách nhìn và đặc biệt sự say sưa theo đuổi công việc là những  yếu tố quan trọng tác động tích cực đến việc ra đời sản phẩm sáng tạo. Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường xuyên phải suy nghĩ và  hành động đề  giải quyết vấn đề  mới nảy sinh trong công việc và cuộc sống  
  2. một cách sáng tạo do điều kiện giải quyết vấn đề  thay đổi cùng với sự  thay   đổi thường xuyên của môi trường xung quanh. Do đó, có thể  nói hoạt động  của con người  ở  những mức độ  khác nhau đều có liên quan đến sáng tạo.   Kiến thức về  bản chất của sáng tạo, cơ  sở  sinh học, xã hội của sáng tạo,   mối quan hệ giữa sáng tạo với các hiện tượng tâm lý khác như trí thông minh,  tư  duy, tưởng tượng, động cơ  cũng như  kiến thức về  phương pháp nghiên  cứu sáng tạo rất cần thiết đối với những người làm công tác nghiên cứu,  giảng dạy và các nhà chuyên môn làm việc trong lĩnh vực tâm lý học. Cuốn   giáo trình "Tâm lý học sáng tạo” này có mục tiêu cung cấp những kiến thức   như vậy cho học viên. Giáo trình được trình bày trong 7 chương. Chương I nêu những vấn đề  chung về  sáng tạo và tâm lý học sáng tạo như  quan niệm về  sáng tạo, các   thuộc tính, cấp độ  sáng tạo, các trường phái và xu hướng nghiên cứu sáng  tạo. Chương II trình bày phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học sáng  tạo. Trong chương này 4 nhóm phương pháp chính, trắc đạc tâm lý, thực   nghiệm sáng tạo, nghiên cứu trường hợp và trắc đạc lịch sử  được trình bày   cùng với những kết quả nghiên cứu đã có của các học giả. Chương III phân tích bản chất của sáng tạo như  một quá trình gồm  nhiều giai đoạn mà mắt xích trung tâm của quá trình là sự chuyển hóa từ ấp   ủ sang thấu hiểu, xuất hiện ý tưởng sáng tạo. Khái niệm dòng sáng tạo của  Csikszentmithalyi (1996) được bàn đến như  một sự  đắm chìm vào diễn biến  sự kiện mà chủ thể không còn ý thức rõ ràng sự tồn tại của chính mình. Việc  giải quyết vấn đề  sáng tạo được phân tích theo một số  cách tiếp cận như  tiếp cận lý thuyết trí tuệ tư duy theo chiều ngang, tiếp cận theo thành tố v.v… Chương IV phân tích cơ sở sinh học và xã hội của sáng tạo. Các cơ sở  sáng tạo  ở  cấp  độ  tế  bào thần kinh, bán cầu đại não, tác động của môi   trường gia đình, giáo dục, môi trường làm việc, môi trường xã hội đối với 
  3. sáng tạo được phân tích, trong đó văn hoá được coi là có nhiều tác động đến  sáng tạo của con người. Chương V phân tích các quan niệm về  mối quan hệ giữa sáng tạo và  trí thông minh, tư duy sáng tạo, tưởng tượng. Có nhiều quan điểm nghiên cứu   mối quan hệ trí thông minh và sáng tạo, mỗi tác giả có cách tiếp cận riêng và   có quan niệm riêng, điều đó không hề  mâu thuẫn với bản chất của sáng tạo  là quá trình đi đến cái mới. Tư  duy sáng tạo có vai trò quan trọng trong phát  hiện ra cái mới; tư  duy sáng tạo không chỉ  bao gồm thành phần lôgíc, các   yếu tố phi lôgíc, tiền lôgíc, yếu tố trực giác có vai trò quan trọng trong tư duy   sáng tạo. Tưởng tượng là thành phần không thể thiếu của sáng tạo, mặc dù  có nguồn gốc từ  thực tiễn nhưng tưởng tượng đóng vai trò quan trọng trong  tạo dựng cơ chế phi lôgíc của sáng tạo. Chương VI trình bày các đặc điểm nhân cách của người sáng tạo và  động   cơ   sáng   tạo.   Không   đi   sâu   vào   cấu   trúc   kinh   điển   của   nhân   cách,   chương này điểm qua một số đặc điểm nhân cách, có thể là những đặc điểm  của xu hướng, năng lực hay tính cách, có mặt ở những người sáng tạo. Cũng  tại chương này vấn đề động cơ sáng tạo được phân tích khá chi tiết. Động cơ  trong có vai trò quyết định tới sáng tạo; động cơ ngoài hỗ trợ cung cấp thông   tin có ý nghĩa xóa bỏ sự kiểm soát hay duy trì tính liên tục của hoạt động học   tập và lao động góp phần thúc đẩy sáng tạo. Chương VII trình bày vấn đề  sáng tạo trong tổ  chức và việc giáo dục,   phát triển tính sáng tạo. Mặc dù sáng tạo là một hiện tượng tâm lý còn nhiều  điều chưa được làm rõ, các nhà nghiên cứu vẫn khẳng định triển vọng phát   triển năng lực sáng tạo  ở  người học và phát huy tính sáng tạo  ở  người lao  động. Đây là tài liệu dùng cho học viên sau đại học nên vấn đề  được trình  bày khá cởi mở, đưa ra nhiều quan điểm, ý kiến về một vấn đề. Học viên có  
  4. cơ hội trải nghiệm các góc nhìn khác nhau và có thể lựa chọn cho mình quan   điểm thích hợp. Giáo trình được viết với thời lượng 3 tín chỉ, là tài liệu học tập của học  viên cao học tâm lý học thuộc Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học  Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Cuốn sách còn là tài liệu tham  khảo cho nghiên cứu sinh, các nhà nghiên cứu tâm lý học và những ai quan   tâm tới vấn đề sáng tạo và phát triển sáng tạo ở con người. Cuốn sách không   tránh khỏi  những thiếu sót, những  ý kiến đóng góp của độc giả  và đồng   nghiệp xin gửi về địa chỉ email: ptnghi2008@gmail.com. Hà Nội, ngày 12 tháng 2 năm 2012 Tác giả: GS.TS. Phạm Thành Nghị   Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG I. SÁNG TẠO VÀ CÁC THUỘC TÍNH 1. Quan niệm về sáng tạo trong lịch sử phát triển nhận thức Mục đích của phần này là điểm qua những quan niệm về sáng tạo và   làm rõ sự thay đổi quan niệm về sáng tạo trong lịch sử nhận thức. Quan niệm  về sáng tạo cũng có lịch sử của nó. Ở giai đoạn đầu của sự  phát triển nhận  thức, nghiên cứu khoa học và sáng tạo không được coi là có liên hệ với nhau.  Khi con người phát hiện ra những quy luật trong thế giới vật lý, bắt đầu xuất  hiện niềm tin rằng con người có thể  hiểu được bản chất của tự  nhiên mà  không có sự  can thiệp của lực lượng siêu nhân. Sáng tạo cũng như  vậy, lúc   đầu, sự  sáng tạo của con người chưa được thừa nhận, con người có phát   minh, sáng chế là do họ mang theo tính sáng tạo được lực lượng thần thánh   gửi vào. Ngày nay đã có niềm tin rằng con người có thể sáng tạo và khoa học   có thể giúp chúng ta hiểu được cách nào để sáng tạo. Tuy nhiên, rất gần đây 
  5. thôi, nghiên cứu sáng tạo trong tâm lý học mới được các nhà khoa học quan  tâm. a. Quan điểm ban đầu về sáng tạo Các học giả  đều nhất trí rằng quan niệm ban  đầu, nguyên thủy về  sáng tạo của phương Tây là câu chuyện được kể  trong kinh thánh, theo đó  đức Chúa Trời đưa sự  sáng tạo xuống trần thế. Boorstin (1992:42) viết “Về  sự  nhận thức khả  năng của mình, giao kết là điểm quan trọng. Sự  giao kết   cho rằng con người kết nối lại thành cộng đồng bởi lòng tin của họ vào Đấng  sáng tạo ­ Đức Chúa Trời. Họ khẳng định quyền lực sáng tạo của mình qua   sự liên hệ, kết nối với các phẩm chất của Chúa, qua quan hệ máu thịt và tự  nguyện của họ với Chúa". Quan điểm này tồn tại cho đến thế  kỷ  thứ  II sau công nguyên sau đó   suy yếu dần và được thay thế  bằng thuyết mới của Thánh Augustine (354 ­  430). Lúc này Cơ đốc giáo đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên bố quyền  năng sáng tạo. Thuyết mới này phản ánh sự khác biệt rất lớn giữa cách nhìn  nhận của phương Đông và phương Tây về mục đích và vai trò của con người  trong quá trình sáng tạo. Theo Hinđu giáo (1500­900 trước công nguyên) và  Nho giáo (551­479 trước công nguyên), Lão giáo và Phật giáo thì sáng tạo là   sự phát hiện và sự bắt chước. Phật giáo và Nho giáo nhấn mạnh vòng đời sự  hài hòa và cân bằng, do đó tư tưởng sáng tạo không thể có trong thế giới âm  dương từ  số  không (Boorstin, 1992:17). Theo Plato, không có gì mới có thể  tạo ra được, nghệ  thuật là sự  cố  gắng thích nghi hay bắt chước hình thức lý  tưởng. Tính độc đáo, điểm nhấn trong sáng tạo, không phải là thuộc tính của   sáng tạo trong lịch sử cổ đại. Trong suốt gần 1200 năm, tư tưởng này không  có đối trọng, không có lực lượng phản đối. Trong thời trung cổ, tài năng, khả  năng khác thường của cá nhân con người (thường chỉ  là đàn ông) là biểu  hiện của lực lượng tinh thần bên ngoài mà cá nhân chỉ  là người được gửi   gắm để mang theo mà thôi.
  6. Thời kỳ  Phục hưng có những thay đổi đáng kể  trong cách nhìn nhận   sáng tạo.  Ở  thời kỳ  này đã bắt đầu xuất hiện quan điểm cho rằng tài năng   sáng tạo nghệ thuật của cá nhân con người không phải là thuộc tính của lực  lượng thần bí mà là của chính cá nhân con người đó. Hơn nữa, sự  thay đổi  trong cách nhìn nhận này không còn bị cô lập mà là sự chuyển biến của toàn  bộ  xã hội, bao gồm cả  "sự  từ  chối thân phận nông nô, sự  chiến thắng của   tiếng Anh, sự  đi lên của các ngành nghề  như  luật học và y học và sự  phát  triển của xu hướng phi tôn giáo. Sự  thay đổi đó rất mạnh mẽ  và tinh tế  cho   đến khoảng những năm 1500­1700. Mặc dù có sự chuyển biến này, sáng tạo  vẫn còn là lĩnh vực rất mờ nhạt và thậm chí một số  triết gia còn không có ý   định xem xét vấn đề này. b. Cuộc cách mạng trong nghiên cứu sáng tạo Trong hầu hết những năm Phục hưng, nhiều tranh luận của các nhà  triết học và những phát minh khoa học đã phá vỡ những quan điểm văn hóa  và tôn giáo cũ. Phát minh của ba nhà bác học lỗi lạc ­ Copemirưs (1473­ 1543), Galileo (1564­1642) và Newton (1642­1727) ­ đã cung cấp chứng cứ  cho sự  thay đổi này. Nhưng phát hiện của họ đòi hỏi sự  thay đổi trong nhìn   nhận quy luật của thế giới tự nhiên và công nhận mối liên hệ của tự nhiên với   sự  tồn tại của con người. Trong thế  kỷ  thứ  18, hai cách tiếp cận liên quan  đến quyết định luận và chủ  nghĩa cá nhân đã định hình tư  duy phương Tây:   sự khai sáng được gắn kết với triết học trí tuệ mà biểu hiện rõ nhất của nó là   sự  tấn công vào những thế  lực được nhà nước phong kiến bảo vệ  dựa trên  những căn cứ phản khoa học. Trong khi đó, khoa học tự nhiên được củng cố,  thể  chế  hóa và sử  dụng những phương pháp khoa học trong nghiên cứu.   Cùng với cuộc cách mạng trong khoa học là những thay đổi đáng kể  trong  văn hóa phương Tây; vị  thế  của kinh thánh đã thay đổi. Trong hàng trăm  năm, kinh thánh là nguồn tài liệu thần thánh về trí tuệ và đạo đức nhưng đến   cuối thế kỷ 18 kinh thánh đã trở thành tài liệu thế tục. Prickett (1996) cho hay  
  7. trong suốt thời gian cuối thế  kỷ 18, Kinh thánh đã trải qua sự  thay đổi đáng  kể  theo hướng giải thích rất tiến bộ  và trở  thành cuốn sách rất khác so với  100 năm trước đó, thậm chí những người phê bình gay gắt nhất cũng phải  công nhận rằng kinh thánh đã khác xa với việc thần thánh hóa. Kinh thánh đã  khẳng định vững chắc sự  thay đổi trên thế  giới; nội dung kinh thánh mềm   dẻo và phổ  cập. Kinh thánh được xem như  là một sản phẩm văn hóa có sự  thể hiện khá giống với các tài liệu thế tục khác. Khi phong trào Khai sáng chống lại quyền lực thần bí và "trí tuệ  tôn   giáo", tự  do đã trở  thành một phần không thế  thiếu được của quá trình này.  Đó là quyền cá nhân được khám phá chính thế  giới của mình mà không cần  bất cứ  sự  cho phép, sự  hướng dẫn hay can thiệp nào của lực lượng siêu  nhân. Mặc dù ý tưởng về sáng tạo chưa có gì thay đổi trong suốt những năm  từ  1500 đến 1700, đã có sự  thay đổi đáng kể  diễn ra và tạo nền tảng tho ý  tưởng nghiên cứu. Sự  phức tạp có thể  thấy  ở  việc hợp nhất giữa mô hình   khoa học và kỹ thuật mà nhiều người tin rằng đây là sự bắt đầu của nền văn  minh phương Tây, "từ thế giới nơi đồ vật được xếp đặt theo bản chất ý tưởng   tuyệt đối sang thế  giới của sự  kiện diễn ra theo quy luật của tự nhiên. Như  vậy, đã có sự thay đổi trong quan niệm và thực tiễn về nguồn gốc của sáng   tạo và ý nghĩa của các nghiên cứu thực chứng. Những quan niệm này ngày  càng được củng cố  nhờ  sự  ra đời của những phát minh trong khoa học tự  nhiên và thiên văn học. c. Những tiền đề thể chế và triết lý cho nghiên cứu sáng tạo Giai đoạn Khai sáng ở Anh quốc đã tạo tiền đề cho những nghiên cứu  thực nghiệm. Khai sáng đã tạo ra cơ sở triết học và xã hội cho sự đối lập với   chính quyền (tôn giáo, chế  độ  quân chủ  và các thế  lực chính trị  khác), cùng   với đó là sự  lớn mạnh của khoa học chống lại tư  tưởng của chính quyền.  Những cơ sở này tạo điều kiện cho sự đáp ứng nhu cầu cấp thiết của tự do   ngôn luận, báo chí và tự  do cá nhân. Tự  do trong tranh luận, chẳng hạn, là 
  8. điều kiện cốt lõi của tư  duy duy lý thể  hiện hàng ngày và được củng cố  bởi  các chứng cứ khoa học. Tất cả những ý tưởng đó được đưa ra tranh luận và   được định hình trong thế  kỷ  18 và 19. Khoa học được luật pháp công nhận.   Hiệp hội Hoàng gia được Charles II công nhận từ năm 1662 đã trở  thành địa  chỉ  cho các cuộc gặp gỡ của các nhà khoa học và Hiệp hội này đã đứng ra   công nhận kết quả  nghiên cứu của các nhà khoa học. Hiệp hội còn phát  hành  ấn phẩm của các thành viên, các bài viết cá nhân không được truyền  bá riêng. Báo khoa học in  ấn trong Hiệp hội ngày càng có uy tín. Đặc biệt  Hiệp hội trở nên có uy tín hơn khi hòa giải được sự  tranh luận dai dẳng giữa   Robert Hooke và Isaac Newton. Hiệp hội đưa ra phản  ứng của mình với tư  cách là một tổ chức của những người làm khoa học và là nơi ấn hành các kết   quả  nghiên cứu khoa học: Việc tập trung hoạt động này tạo thêm quyền lực  và tính thực tiễn của khoa học. Hai hậu quả của việc thể chế hóa này là: cá   nhân bị  hạn chế  xuất hiện trên  ấn phẩm, trong khi đó Hiệp hội Hoàng gia  khuyến khích sự  xuất hiện của các nhà khoa học thiên tài trong trao đổi và   chuyển hướng quan tâm của Hiệp hội từ  những vấn  đề  cá nhân sang sự  quan tâm đến tính quy luật của tự nhiên và việc phát hiện ý nghĩa thực tiễn   của khoa học. Những lợi ích đó đánh dấu giá trị của quy luật tự nhiên và tầm   quan trọng của thực nghiệm khoa học trong thế giới vật lý. Những cuộc tranh  luận về ý tưởng, của suy đoán không được coi trọng. Các kết quả nghiên cứu   sử dụng các phương pháp thực chẳng có khả  năng tạo ra những lợi ích thực   tiễn được chú ý. Mặc dù thế  giới vật lý được xem là nguồn gốc trước tiên  được chấp nhận và con người được coi là một bộ phận của tự nhiên, những   nghiên cứu về bản chất con người vẫn chưa được chú ý một cách nghiêm túc   trong giai đoạn này. d. Những tranh luận dường như không bao giờ kết thúc Sự  phát triển của khoa học đã diễn ra trước khi quan niệm sáng tạo  được tạo dựng. Trong nửa cuối thế kỷ 18, niềm tin khoa học về quy luật của  
  9. tự nhiên đã được chấp nhận. Sự chứng minh của khoa học trong cuộc sống   thực tiễn nhờ  áp dụng những sáng chế  trong khoa học tự  nhiên, máy quay   sợi, máy hơi nước đã làm tăng tốc cuộc cách mạng công nghiệp và đưa đến  sự  dẫn đầu của Anh quốc trong chế  tạo và kinh doanh so với các quốc gia  cạnh tranh khác. Hai vấn đề  được tranh luận suốt thế  kỷ thứ 18 giữa các nghệ  sỹ, nhà  văn, nhà thơ và nhà triết học Anh quốc và châu Âu vẫn là: Sự giới hạn tự do   của tư duy là ở chỗ nào? ý nghĩa xã hội và chính trị  của tự do là ở chỗ nào?   Những vấn đề  đó cho thấy thói quen tuân thủ  trong suốt hàng thế  kỷ  và khi   quyền tự  do được công nhận xã hội lại thiếu hiểu biết thấu đáo về  sáng tạo   và đóng góp của sáng tạo trong cuộc sống. Trọng tâm của cuộc tranh luận giữa thẽ  kỷ  thứ  17 là những cố  gắng  làm rõ khía cạnh pháp lý của tự  do cá nhân, phân biệt với thách thức xã hội  và chính trị. Luật pháp và giới hạn mà chính quyền đưa ra đã đi ngược lại với   quy luật xuất hiện thiên tài, tài năng và sự cản trở tự do của con người. Trong   lịch sử  của sáng tạo, có nhiều cố  gắng tìm hiểu những khác biệt giữa tài  năng và thiên tài bẩm sinh. Đến cuối thế kỷ 18, người ta đi đến kết luận rằng  có nhiều người có thể có tài năng trong những lĩnh vực nhất định và có thể đó  là do kết quả  của giáo dục; thiên tài bẩm sinh là rất ngoại lệ  và theo quan   niệm này được miễn trừ các quy tắc, luật tục và trách nhiệm áp dụng đối với   người tài năng. Kaufman (1926) đã chỉ  rõ, các cuộc tranh luận dài này về  quan hệ  và khác biệt giữa thiên tài, tính bẩm sinh, sự  dị  biệt, năng lực bẩm   sinh và tự do. Cuối cùng đã làm xuất hiện học thuyết về chủ nghĩa cá nhân.  Nhưng không có khái niệm sáng tạo tồn tại tại thời điểm đó. Hobbes (1588­ 1679) là người đầu tiên công nhận tầm quan trọng của tưởng tượng trong tư  duy. Đây là tư  tưởng được nhắc đến như  là điểm khởi đầu cho cuộc tranh   luận trong thời kỳ Khai sáng.
  10. Những tranh luận suốt thế kỷ 18 cuối cùng đã đi đến công nhận 4 đặc  trưng khác biệt cơ bản: (1) Thiên tài không phải sinh ra từ thế lực siêu nhân;   (2) Thiên tài, mặc dù là rất xuất chúng, nhưng cũng là tiềm năng trong mỗi cá   nhân, (3) Thiên tài và tài năng có thể phân biệt với nhau; (4) Tiềm năng và sự  vận hành chúng phụ thuộc vào không khí chính trị của thời đại. Đến cuối thế kỷ 18, kết luận này được chấp nhận rộng rãi, cả tài năng  và thiên tài đều không thể  tồn tại được trong xã hội hà khắc; tài năng cần   đến giáo dục, thiên tài biểu hiện  ở  một số  ít người và ít cần đến giáo dục  hơn, đây là điều khác biệt giữa tài năng và thiên tài. e. Ảnh hưởng của việc áp dụng những phát minh khoa học Cho đến lúc này tồn tại hai mô hình kết hợp nhiều luận cứ và quan sát  thực tiễn liên quan đến nghiên cứu và sáng tạo. Mô hình khoa học duy lý  mang theo quyền lực khoa học và khả  năng áp dụng vào thực tiễn đưa đến  những kết quả nhất định. Mô hình khác, có thể  gọi là hệ  tư  tưởng sáng tạo,  liên quan đến ý nghĩa xã hội và tiềm năng của tính độc đáo và chủ  nghĩa cá  nhân trong bối cảnh phải phục tùng quyền lực và duy trì trật tự xã hội. Mô hình khoa học duy lý luôn là mô hình được dùng chính thống với  các luận cứ  và các bước nghiên cứu theo trật tự. Mặt khác, có cuộc tranh   luận khá dài về  ý nghĩa tôn giáo và thế  lực của sáng tạo; sáng tạo đòi hỏi  phải có hệ  tư  tưởng, bởi vì sáng tạo được xác định là phù hợp với bản chất   của con người và các điều kiện chính trị xã hội. Trong khi khoa học tự  nhiên và những người sáng chế  thực tiễn như  Arkwright và Watt bận rộn với việc đưa ra những gì mà lý trí của con người và   sự  sáng chế  có thể  làm được, hàng loạt sáng chế  và  ảnh hưởng mạnh mẽ  của chúng dẫn đến những hậu quả  không dự  đoán trước được. Người nông   dân và người lao động di chuyển khỏi đồng quê để  đến các khu đô thị  với   các điều kiện sinh sống tồi tệ và họ phải làm việc trong những nhà máy thiếu 
  11. những điều kiện nhân bản tối thiểu. Điều thú vị  là khi các nhà khoa học rất   bận rộn với  việc nghiên cứu xem trí tuệ  của con người  có thể  làm  được   những gì, thì đồng thời cũng có một sự quan tâm khác liên quan đến hậu quả  của việc áp dụng những kết quả nghiên cứu đó, đặc biệt tới những vấn đề có  liên quan đến trật tự, ổn định chính trị xã hội. Sự truyền bá rộng rãi không cưỡng lại được của tự do cá nhân và việc  áp dụng rộng rãi những thành tựu của khoa học đã tạo ra một xã hội khác xa  với xã hội thời kỳ đầu cách mạng công nghiệp. Nhiều hậu quả  không lường   trước được của việc áp dụng khoa học đã tạo ra nhu cầu phát triển khoa học  xã hội, mặc dù có niềm tin rằng khoa học tự nhiên được quản lý theo quy luật  duy lý và khôn ngoan. Hậu quả  không mong muốn và không dự  báo được   của việc áp dụng kết quả khoa học vào cuộc sống xã hội đã khơi dậy phong   trào đấu tranh chính trị và xã hội. Adam Smith là một trong những người đầu tiên nhận ra nhu cầu của  nghiên cứu khoa học về hành vi con người. Cuốn sách "Tài sản của dân tộc”   (Wealth of Nation, 1776) là cố gắng tập hợp nhiều lý giải cho khoa học xã hội;   đó là cuốn bách khoa về  hậu quả  không mong muốn của khoa học. Ông  nhấn mạnh rằng hậu quả  có thể  tốt hoặc xấu, nhưng chúng thường không  chú ý và không dự  báo được. Ông chỉ  ra hậu quả  không dự  báo được là sự  phát triển đột ngột của dân số và sự phát triển công nghiệp. Do hậu quả của   nó, Smith và những người khác tranh luận rằng cần thiết phải phát triển khoa   học tự  nhiên, dựa trên kiến thức xã hội, chính trị  một cách hệ  thống. Khoa  học xã hội sẽ  giúp dự  báo những thay đổi xã hội trước khi nó vượt ra ngoài  tầm kiểm soát. Tám năm sau khi Smith mất, xuất hiện  ấn phẩm của Malthus, Bài viết   về  Dân số  (1798). Tác phẩm  đã chỉ  ra  các  dẫn chứng của  sự  phát triển   không kiểm soát được và sự  thiếu tổ  chức trong dân số  Anh quốc. Malthus  dự  báo hậu quả  không lường trước được nếu hành động xã hội và chính trị 
  12. không tiến hành ngay để  đối phó. Nghiên cứu của Malthus mang tính thực  chứng nhưng không thuộc khoa học vật lý cho đến thời của Galton. 40 năm   sau khi bài viết về  dân số  mà Malthus dùng cơ  chế  "đấu tranh sinh tồn" để  giải thích sự  hỗn loạn xã hội, cơ  chế  "đấu tranh sinh tồn” đã cung cấp cho   Darwin sự giải thích về cơ chế lựa chọn tự nhiên mà ông cố gắng truyền bá.  Ý tưởng đó đã giúp cố gắng của Darwin và “nguồn gốc của vạn vật" bổ sung   chứng cứ  mới về sự xuất hiện của con người, đối tượng của sự  chuyển đổi  không chủ  ý và không dự  báo trước được và là kết quả  của chọn lọc tự  nhiên. Chọn lọc tự  nhiên không chuyển động theo bất kỳ  ý muốn chủ  quan   của ai, không theo đạo đức và ý chí nào. Chọn lọc tự nhiên là mù quáng. Tất  nhiên khi sử  dụng cơ chế chọn lọc tự nhiên để  giải thích các hiện tượng xã  hội, Malthus đã bỏ  qua vai trò của ý thức con người trong điều khiển các   hành vi xã hội. Sự đột phá của trí tuệ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 về  hiểu biết sáng tạo được cho là có đóng góp của Darwin. g. Sự  thích nghi, tính đa dạng và chọn lọc tự  nhiên: Công thức   thực chứng cho sáng tạo của Darwin Từ  cuộc tranh luận đầu tiên, sáng tạo luôn đi kèm với những câu hỏi   trừu tượng liên quan đến những vấn đề lớn hơn: Chủ nghĩa cá nhân là gì? và  tại sao chúng ta cần tự do cá nhân? Chỉ sau khi Darwin làm rõ các quá trình   nhấn mạnh sự lựa chọn tự nhiên mà rất nhiều đặc trưng cơ bản của sáng tạo  được chú ý, đặc biệt ý nghĩa thích nghi của nó. Một trong những vai trò quan  trọng mà sáng tạo có được từ Darwin liên quan đến giải quyết vấn đề và đưa   tới việc thích nghi "có kết quả" mang tính chất cá nhân. Chúng ta có thể  hiểu điều này khi nhận ra những nguyên tắc cơ  bản   của lý thuyết tiến hóa, sự tiến hóa là đa dạng và trên cơ sở thích nghi, sự tiến   hóa diễn ra dưới tác động của chọn lọc tự  nhiên: Darwin tho rằng tạo ra sự  thích nghi và tạo ra sự đa dạng là những khiến cạnh khác nhau của một hiện   tượng phức tạp, không phải là ý tưởng của sự tiến hóa mà là "nguyên tắc của  
  13. chọn lọc tự nhiên. Hơn thế nữa, Darwin cho rằng chọn lọc tự nhiên tạo ra sự  thích nghi. Bởi vì sự tiến hóa xuất hiện không được định trước, sự  thích nghi  đạt được từ sự bắt đầu một hậu quả ngẫu nhiên do tác động của sự thay đổi   môi trường bên ngoài (Dennett, 1995). h. Sự chuyển tiếp từ Darwin đến Galton Cầu nối trí tuệ từ Darwin đến Galton đã được xây dựng từ  rất sớm bởi   sự nghiệp của Galton thông qua sự trao đổi và thăm viếng thường xuyên giữa  hai người cho tới khi Darwin qua đời. Nội dung trao đổi nhiều nhất là xung  quanh sự  tiến hóa. Giai  đoạn  đầu trong quan hệ  của họ, Galton  đề  xuất  phương án về  di truyền và tiến hóa, nhưng ngay sau đó ông lại bị  thuyết   phục bởi độ  tin cậy và quyền lực giải thích to lớn của mô hình tiến hóa dựa   trên nguyên tắc chọn lọc tự nhiên và sự cần thiết của tính đa dạng và vai trò  của thích nghi trong chọn lọc tự nhiên. Mặc dù vậy, điều rất tự nhiên là sự đa  dạng mà Galton mang đến có lẽ  là vấn đề  đo lường. Để  giải quyết vấn đề  này, sự  đa dạng được thao tác hoá như  là những khác biệt cá thể  trong môi  trường có nhiều chiều cạnh. Môi trường này bao gồm những gì có thể  đo  được bằng công cụ  mà hầu hết do Galton thiết kế. Vì vậy, một trong những   đóng góp của Galton trực tiếp cho nghiên cứu tâm lý học và gián tiếp cho  sáng tạo là định nghĩa thao tác của tính đa dạng tiến hóa rộng lớn thể hiện   trong những khác biệt cá thể, những cái có thể đo lường được. Galton có hai mối quan tâm lớn liên quan với nhau trong suốt sự nghiệp  của ông: một là nghiên cứu sự khác biệt cá thể và hai là nghiên cứu chương  trình ưu sinh (Eugenics), cái mà ông tin rằng cần thiết để tăng cường tài năng  của người Anh một cách khoa học. Cho dù Galton có nhận ra hay không.  Ông đã đi theo bước chân Smith và Malthus với mong muốn bảo vệ  xã hội  khỏi hậu quả  không lường trước được. Thuyết  ưu sinh là chương trình của  Galton giảm thiểu sự không xác định trong chọn lọc tự nhiên có thể tác động  đến nước Anh. Hai mối quan tâm nghiên cứu đó đã dẫn đến đóng góp trực 
  14. tiếp nhất cho nghiên cứu về sáng tạo ­ lựa chọn các gia đình nổi tiếng như là  những ví dụ  về  khả  năng di truyền của họ. Vấn đề  là lựa chọn những cá  nhân nổi trội như những chủ thể sáng tạo rõ rệt và sử dụng các số liệu thống  kê, mà một phần trong số  đó do Galton xây dựng.  Ở  đây lại thấy một đóng  góp nữa của  Galton. Dù chủ   ý  hay không, Galton cũng đã cung cấp cho  chúng ta chứng cứ rằng thiên tài không phải do lực lượng siêu nhiên, mặc dù   rất hiếm thấy, nhưng thiên tài có tiềm năng  ở  trong mỗi con người và năng   lực được phân bổ trong toàn bộ dân cư. i. Từ Galton đến ngày nay Câu hỏi đặt ra là liệu Galton có phải là người duy nhất quan tâm đến  sáng tạo thời gian đó hay không. Câu trả lời là không. Nhưng ông là người áp  dụng nhiều nhất các phương pháp thực chứng trong lựa chọn thủ  thể và đo  lường những khác biệt của cá nhân. Sternberg và Lubart (1996) cho rằng trở  ngại tho nghiên cứu sáng tạo suốt thời gian đó là sự  gắn chặt giữa sáng tạo   và lực lượng thần bí, theo nghĩa rằng sáng tạo có nguồn gốc thần thánh.   Thành công của Galton là rất lớn vì rằng trong thời đại của ông có rất nhiều  người cũng quan tâm đến những vấn đề này, nhưng không ai tìm được cách  giải quyết thoả đáng. Sau khi tổng kết những nghiên cứu trong thế kỷ 19, Becker (1995) kết  luận rằng mặc dù có sự khác biệt giữa các tác giả và các bài viết, chủ đề của   thế  kỷ  19 không khác là mấy so với chủ đề  của thế  kỷ  20. Becker tuyên bố  rằng các tác giả trong thế kỷ 19 tập trung vào 5 vấn đề nghiên cứu sáng tạo:  (1) Sáng tạo là gì? (2) Ai có khả năng sáng tạo? (3) Những người sáng tạo có  những đặc điểm gì? (4) Ai được hưởng lợi từ  sự sáng tạo? (5) Cá nhân tăng  cường sáng tạo qua những cố gắng có ý thức hay không? Không nghi ngờ gì  đây là những câu hỏi quan trọng để tìm hiểu sáng tạo, nhưng cũng trong thời   gian ấy chỉ có Galton đã có tiến bộ thực sự trong tìm kiếm câu trả lời cho các  câu hỏi trên.
  15. Năm 1877, Jevons định nghĩa thiên tài như "sáng tạo bản chất” và được  biểu hiện khi nào có "sự  tách khỏi đường mòn của tư  duy và hành động”   (Becker, 1995: 225). William James (1992) đánh giá những nghiên cứu và các  dữ liệu thực chứng phù hợp với sự đánh giá thực chứng của Dalton trước kia.  Ý tưởng tư  duy phân kỳ, hay chí ít cũng là cơ  hội của các ý tưởng phức tạp,   được William James đưa ra. Ông đã hiểu sự  độc đáo, hiếm hoi của ý tưởng   mới. “Thay vì tư  duy về  những thứ  cụ  thể  một cách cần mẫn theo trình tự  đường mòn của thói quen, chúng ta có đường cắt chéo bất ngờ và chuyển từ  ý tưởng này sang ý tưởng khác… phối hợp những thành tố  chưa được biết,  những liên tưởng tương tự  tinh tế  nhất, nhưng ngắn gọn. Chúng ta dường   như  đang giới thiệu nồi vạc sôi sùng sục những ý tưởng… nơi mà sự  cộng   tác có thể tiến hành mềm dẻo ngay lập tức, còn sự  lặp lại buồn chán không   rõ ràng sẽ  không có chỗ   đứng và những  điều bất ngờ  tất yếu sẽ  xảy ra  (Becker, 1995: 222). Rất khó biết khi nào và ở đâu ảnh hưởng của Galton kết thúc. Hầu hết  ảnh hưởng đó hình như được tiếp nhận trong mối quan tâm liên tục và những  nghiên   cứu   ở   cuối   thế   kỷ   19.   Năm   1879   Galton   xây   dựng   một   phòng   thí   nghiệm sớm nhất,  ở  đó ông đã đo những khác biệt cá nhân về  chức năng  cảm giác và nghiên cứu này có mối liên quan đến giả định rằng sự khác biệt   về  cảm giác có liên quan tới trí tuệ  và đến năm 1883 ông đã kết luận rằng   "sản phẩm sáng tạo" được tạo ra từ "năng lực chung", từ "thiên tài bẩm sinh"  (1869); ông tuyên bố rằng đây là một trong những khả năng chính yếu đối với  thiên tài. Đến năm 1900, đo lường những khác biệt cá nhân về  trí tuệ  đã trở  thành mối quan tâm nghiên cứu của các nhà tâm lý học. Thực ra đến năm  1904   Binet   và   Spearman   mới   tiến   hành   nghiên   cứu   thực   chứng   về   trắc  nghiệm trí tuệ. Terman, là thành viên của nhóm, đã sửa chữa trắc nghiệm   Binet­simon.   Mặc   dù   trắc   nghiệm   IQ   là   công   cụ   nghiên   cứu   của   Terman   nhưng khuôn khổ lý luận lại của Galton (Albert & Runco, 1999).
  16. Mặc dù công trình rủa Galton không được tiếp tục, nhưng  ảnh hưởng   của ông vẫn còn. Terman là nhà tâm lý học Mỹ đầu tiên nghiên cứu về thiên   tài. Mối quan tâm sâu sắc của ông đến thiên tài thể hiện qua nhiều công trình   nghiên cứu. Nghiên cứu của Terman rất quan trọng không chỉ bởi sự thay đổi  phương pháp, mà còn có ý nghĩa giáo dục và xã hội to lớn. Cả  Galton và   Terman đều lo lắng về  tương lai của dân tộc và làm thế  nào để  bảo vệ  nó.   Terman đã bị  phê phán trong thời gian  ấy bởi sự  tập trung rất hẹp của ông  vào IQ và coi đó là biểu hiện của năng khiếu và chối bỏ thậm chí cả sáng tạo   và những thành công phi học thuật khác. Cũng đúng như nhận định này, quá  trình nghiên cứu của Terman luôn được định hướng bởi mong muốn làm cho  xã hội Mỹ  phát triển dựa trên nguyên tắc phát triển những người tinh túy.   Theo đó trẻ em có IQ cao được phát hiện và được tạo cơ hội phát triển tối đa  tiềm   năng.   Điều   đó   còn   có   ý   nghĩa   ở   chỗ   chương   trình   nghiên   cứu   của  Terman tiến hành chống lại sự thay đổi trí tuệ đang diễn ra ở châu Âu, ở mức  độ nào đó là sự hồi phục của triết học Rousseau. Quan niệm và hành động   như  vậy của Terman đồng nghĩa với việc công nhận sự  thành công của con  người là do nguồn gốc sinh học quyết định (Albert & Runco, 1999). Phương pháp của Terman là tương đối đơn giản, trong khi sáng tạo lại  là quá trình rất phức tạp. Luận án của Catherine Cox do Terman hướng dẫn   như  là sự  kéo dài của chính phương pháp của Terman,  ước lượng IQ theo   cách Galton đối với mẫu những cá nhân được kết quả  xuất sắc trong giai   đoạn 1450 ­ 1850. Thông qua mối quan tâm của Terman về  Galton, mà sau  này có ảnh hưởng rất lớn đến nghiên cứu của Cox (1926). Trong thực tế, cả  ba người ­ Galton, Terman và Cox ­ một cách vô điều kiện ­ đều cho rằng   thành công là thước đo tin cậy về  năng lực tâm lý và điều đó giúp giải thích  tại sao Terman và Cox bắt đầu nghiên cứu của mình  ở  nơi mà Galton kết  thúc và tin rằng sáng tạo là cấu thành của trí tuệ. Dữ liệu đều được lấy từ lưu   trữ, nhưng Cox đã nâng cấp công trình của Galton theo nhiều nghĩa. Mẫu 
  17. nghiên cứu của bà lớn hơn và chọn lựa một cách khách quan hơn. Cox dùng  sự đánh giá của chuyên gia về sự nổi tiếng. Sự nâng cấp còn ở chỗ sử dụng   tiểu sử, tự truyện và thông tin văn hóa xã hội, tất cả đều được mã hóa. Từ đó   Cox và các nhà tâm lý học khác đã ước lượng IQ của chủ thể và những thuộc   tính thời thơ   ấu. Điều đó làm cho các đối tượng được chọn cho nghiên cứu  trở nên sống động hơn và câu chuyện của bà đáng tin cậy hơn và những kết   luận đưa ra phù hợp và dễ  được chấp nhận hơn. Nghiên cứu của Cox trên   những người có IQ trung bình khoảng 154 cho thấy hầu hết những người   sáng tạo có thành công xuất sắc, không những có trí tuệ  cao mà về  khía  cạnh động cơ  và cố  gắng, họ  có lòng tin vào khả  năng của mình và có sự  mạnh mẽ  về  tính cách.  Ở  đây có sự  tương đồng giữa Galton và Cox trong   việc công nhận vai trò của động cơ trong, như Galton mô tả trước kia là "một  trong những phẩm chất của trí tuệ  khuynh hướng và hành động như  những   kích thích quan trọng" (Runco, 1993: 6). Độ  tin cậy trong kết luận của Cox   được khẳng định bởi sự  tập trung vào các chứng cứ  về  sự  bền bỉ, động cơ  trong và tính tự chủ (Albert & Runco, 1999). Thật khó có thể nói gì về nghiên cứu sáng tạo cho đến trước thế chiến  thứ  hai bằng đóng góp của Cox. Bà đã theo cách tiếp cận lịch sử để  nghiên  cứu và cho rằng nghiên cứu sáng tạo liên quan đến vấn đề chung cho cả tâm  lý học và lịch sử. Đây là việc áp dụng các dữ  liệu lịch sử, các tiêu chuẩn đo  năng lực tâm lý của trẻ  em (Cox, 1926: 21). Đóng góp khác của Cox còn  ở  chỗ  bà đã góp phần khẳng định rằng sáng tạo không được định hướng bởi  vô thức. Tất cả các loại hành vi được xác định bởi nhiều tác nhân và điều này  gần với quan niệm hiện nay của sáng tạo ­ một hiện tượng tâm lý rất phức   tạp (Albert & Runco, 1999). Kết quả nghiên cứu của Cox giúp tìm ra sự  phụ  thuộc của bản tính cá nhân và các quá trình thích nghi ý thức. Ngay sau thế  chiến thứ  hai trọng tâm nghiên cứu được hướng vào nhân cách, giá trị, tài  năng và IQ của những đàn ông và phụ nữ đặc biệt cũng như so sánh với các 
  18. trường hợp bình thường như những đối chứng (Barron, 1955). Những nghiên   cứu này khẳng định một điều rằng tất cả những khác biệt những yếu tố ảnh   hưởng nhất của cá nhân là những khác biệt gia đình và khác biệt về  điều   kiện phát triển tạo ra. Khác biệt về  IQ không phải là khác biệt có ý nghĩa  quan trọng nhất. Với IQ trên 115 thì sáng tạo và IQ là hai cấu thành tâm lý ít  nhiều độc lập ở giai đoạn cuối của tuổi vị thành niên (Albert & Runco, 1999). 2. Khái niệm sáng tạo trong tâm lý học Từ  những trình bày về  sự  thay đổi quan niệm sáng tạo trong lịch sử  trên đây, chúng ta thấy quan niệm về  sáng tạo đã thay đổi và phát triển từ  chỗ  siêu hình đến chỗ  có cơ  sở  khoa học hơn. Tâm lý học nghiên cứu các  hiện tượng tâm lý người, ở đó tâm lý được coi là có bản chất tinh thần nhưng   cái tâm lý, cái tinh thần ấy không tồn tại ngoài cái vật chất. Tâm lý là sự phản  ánh, là hình  ảnh chủ  quan của thế  giới khách quan, là hình thức vận động  của vật chất. Những cố  gắng của nền tâm lý học duy vật biện chứng thể  hiện ở quan điểm nghiên cứu cái tâm lý trong chính hoạt động của con người,  tâm lý có bản chất hoạt động và hoạt động của con người là hoạt động tâm  lý. Hành động là đơn vị  tâm lý. Cần nhấn mạnh vai trò dẫn dắt của hành   động, sự phụ thuộc của tâm lý con người vào tác động qua lại với thế giới đồ  vật xung quanh và tính tích cực của chính tâm lý con người. Sáng tạo được  sinh ra trong hoạt động con người, là sự  phát hiện ra những mối liên hệ,   những quy luật đang tồn tại trong đồ  vật, hiện tượng tự  nhiên, xã hội và tư  duy chưa được biết đến trước đó. Đồng thời, sáng tạo của con người cũng  được áp dụng để  tạo ra đồ  vật mới có ích cho cuộc sống của con người.   Sáng chế  mang tính  ứng dụng thiết thực nhưng cũng phải dựa trên những  quy luật được phát hiện ra trước đó. Các nhà tâm lý học xem xét sáng tạo theo những chiều cạnh khác  nhau. Sáng tạo có thể  được xem như  là quá trình tạo ra cái mới; sáng tạo  cũng có thể được xem xét theo những đặc điểm của sản phẩm mới được tạo  
  19. ra và sáng tạo còn được xem xét như năng lực, như đặc điểm nhân cách của   người sáng tạo. Trước hết, sáng tạo được xem như  một quá trình tạo ra cái mới trong  hoạt động của con người. Quan niệm loại này xuất phát từ bản chất của quá  trình sáng tạo. Watson (1928) chẳng hạn, phân biệt sáng tạo theo cách mà  cái mới được tạo ra. Câu hỏi đặt ra là cái mới được sinh ra như thế nào? Sự  sáng tạo trong ngôn ngữ diễn ra như thế nào? Một bài thơ  hay, một bài luận  xuất sắc được tạo ra như thế nào? Câu trả lời là chúng ta đến đó được là nhờ  thao tác từ ngữ, chuyến đổi từ ngữ đến khi loại hình mới xuất hiện. Trường phái Gestal thì lại cho rằng sáng tạo là sự  thấu hiểu xuất hiện  khi người tư duy nắm bắt được những nét chính yếu của vấn đề và mối quan   hệ  của chúng với giải pháp cuối cùng. Sáng tạo được coi là hoạt động giải   quyết vấn đề  đặc trưng bởi tính thới mẻ, tinh phi truyền thõng, sự  bền bỉ  và  khó khăn trong hình thành vấn đề (Newell và đồng nghiệp, 1962). Guilford đưa ra định nghĩa sáng tạo trong mối quan hệ với năng lực cá  nhân của người sáng tạo. "Theo nghĩa hẹp, sáng tạo liên quan đến những  năng lực đặc trưng cho những người sáng tạo. Hay nói cách khác vấn đề tâm   lý học liên quan đến nhân cách sáng tạo… Tôi thường xác định nhân cách cá  nhân như một kiểu thuộc tính độc nhất làm một người khác với những người  khác. Nhà tâm lý học đặc biệt quan tâm đến những đặc điểm được biểu hiện  trong thực hiện hành động hay trong các đặc điểm hành vi. Các thuộc tính  hành vi diễn ra phụ thuộc vào các cấu thành lớn như năng lực, hứng thú, thái  độ  và các thuộc tính khí chất. Nhân cách sáng tạo là tập hợp các kiểu loại   đặc điểm đặc trưng cho những con người sáng tạo" (Guiord, 1950: 444). Mặc   dù   tiếp   cận   nhân   cách   được   nhiều   nhà   nghiên   cứu   quan   tâm  nhưng đa số  các định nghĩa sáng tạo có nhắc đến chỉ  báo của sản phẩm  sáng tạo như  là dấu hiệu để  phân biệt. Hầu hết các định nghĩa nhấn mạnh  vào   sản   phẩm   sáng   tạo   bao   gồm   thuộc   tính   mới   và   phù   hợp.   Barron 
  20. (1955:478­479)   cho   rằng   sản   phẩm   sáng   tạo   phải   độc   đáo,   tức   là   không   giống với phần lớn đồ vật khác được tạo ra và sản phẩm phải ở mức độ nào  đó thích ứng với thực tiễn. Tóm lại, sáng tạo có thể  được coi là quá trình tiến tới cái mới, là năng  lực tạo ra cái mới, sáng tạo được đánh giá trên cơ sở sản phẩm mới, độc đáo  và có giá trị. Tuy nhiên, cần phải phân biệt hai loại định nghĩa sáng tạo: định  nghĩa mang tính thao tác và định nghĩa mang tính quan điểm. Định nghĩa   sáng tạo mang tính thao tác dựa chủ  yếu vào tiêu chuẩn chủ  quan và như  vậy chưa đủ  cơ sở để sử  dụng trong các lý thuyết về sáng tạo. Ở  thời điểm   hiện tại các nghiên cứu thực chứng về sáng tạo của con người chưa có các  chuẩn mực khoa học để  xác định các sản phẩm sáng tạo, việc hình thành   các lý thuyết sáng tạo dựa chủ  yếu vào các thừa nhận chung về  tiêu chuẩn   và các đặc tính của các tiêu chuẩn đó. Vì vậy, điều quan trọng ở đây là phải  xác định các tiêu chuẩn của cái mà các nhà nghiên cứu gọi là “sáng tạo". Khung lý thuyết của sáng tạo có thể bao hàm hai thành tố cơ bản: “Một  sản phẩm hay câu trả  lời được gọi là sáng tạo (a) chúng phải mới và phù  hợp, hữu dụng, đúng hay có giá trị cho nhiệm vụ, công việc của con người và  (b) nhiệm vụ  phải có tính trực giác chứ  không mang tính lôgíc" (Amabile,   1996:35). Quan niệm của Amabile nhấn mạnh tính phi lôgíc của sự xuất hiện  ý tưởng sáng tạo. Quan niệm này là phù hợp vì rằng nếu đã có lôgíc đi đến   sáng tạo thì nhiệm vụ tự nó không còn là sáng tạo nữa. Con   đường  lôgíc là  con  đường rõ  ràng  đã  được  xác  định  trước   đó;  ngược lại con đường sáng tạo là con đường chưa có sẵn, còn lờ  mờ, không  rõ ràng cho đến khi tìm được lời giải. Khi giải quyết các nhiệm vụ  sáng tạo,   con đường lôgíc được xây dựng hay được phát hiện ra. Như  vậy, nhiệm vụ  có được coi là sáng tạo hay không phụ  thuộc rất nhiều vào mục tiêu cụ  thể  và mức độ kiến thức của người thực hiện. Ví dụ, nhiệm vụ làm một loại bánh  cụ  thể  không được coi là nhiệm vụ  Sáng tạo, người thực hiện chỉ  cần làm 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản